|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 280/2024/HS-ST Ngày: 25-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chu Văn Hùng.
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan.
Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 268/2024/TLST-HS ngày 12/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Công Tôn Q, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 8 năm 1987 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Công Xây L, sinh năm 1966; và bà Đinh Thị Lan A, sinh năm 1965; có vợ: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1995; chưa có con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Bản án số 189/2009/HSST ngày 17/6/2009, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt cả hai tội là 09 năm tù.
- + Bản án số 328/2010/HSST ngày 21/12/2010, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp
hình phạt với Bản án số 189/2009/HSST ngày 17/6/2009 buộc Công Tôn Q phải chấp hành hình phạt tù là 11 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/6/2019. Tại Quyết định số 56 ngày 22/9/2022, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên đã đình chỉ thi hành án phí và các khoản khác.
Bị cáo bị bắt từ ngày 12/6/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Tuấn H1, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Trần Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, Công Tôn Q thuê xe ôm của anh Nguyễn Tuấn H1 (sinh năm 1995, HKTT: xóm 3,4 Văn Giáo, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định) đi từ số E P, thành phố Hà Nội về Bệnh viện G thuộc phường T, thành phố T. Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh H1 để bán lấy tiền. Khi đến địa phận tỉnh Thái Nguyên thì Q và anh H1 có dừng lại uống nước, Q xin tài khoản zalo của anh H1 và gửi cho anh H1 01 ảnh căn cước công dân của Công Tôn Q. Trong lúc uống nước, Q có nói với anh H1: “Điện thoại của anh sắp hết pin, khi đến bệnh viện G em cho anh mượn điện thoại một chút”. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, anh H1 chở Q đến cổng Bệnh viện G thuộc tổ A, phường T, thành phố T thì Q nói với anh H1: “Cho anh mượn điện thoại một phút thôi, anh chạy vào lấy giấy khám sức khỏe rồi anh ra ngay”. Anh Hiệp đồng ý và đưa cho Q 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13C, màu xanh, đã qua sử dụng của anh H1. Sau đó, Q cầm chiếc điện thoại trên đi ra cổng sau của bệnh viện và sử dụng chiếc điện thoại này gọi xe taxi. Sau khi lên xe taxi, Q thu hồi lại tin nhắn ảnh Căn cước công dân của mình và tắt nguồn chiếc điện thoại trên để tránh bị phát hiện. Q mang đi bán chiếc điện thoại này đến cửa hàng “Chung M” tại số nhà A, đường G thuộc tổ D, phường P, thành phố T, gặp và bán chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 13C, màu xanh cho anh Trần Văn C (sinh năm 1981, HKTT: tổ A, phường T, thành phố T, là chủ cửa hàng) với giá 1.200.000 đồng. Số tiền này, Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13C màu xanh, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.997.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Công Tôn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, biên bản kiểm tra,
xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường. kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13C, màu xanh, đã qua sử dụng. Hiện không thu hồi được.
Phần dân sự: Anh Nguyễn Tuấn H1 yêu cầu bị cáo Công Tôn Q bồi thường số tiền 3.600.000 đồng, trong đó 3.300.000 đồng là tiền chiếc điện thoại, 300.000 đồng là tiền phí dịch vụ chở khách. Đến nay bị cáo Công Tôn Q chưa bồi thường thiệt hại.
Cáo trạng số 273/CT-VKSTPTN ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Công Tôn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Công Tôn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 48; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 587, 589, 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt: Bị cáo Công Tôn Q1 từ 12 đến 15 tháng tù. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh H1 3.600.000đ; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt bị hại không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Công Tôn Q khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, tại tổ A, phường T, thành phố T, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Công Tôn Q đã nói dối anh Nguyễn Tuấn H1 để mượn 01 chiếc chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 13C, màu xanh, đã qua sử dụng có giá trị 2.997.000 đồng để đi có việc, do tin tưởng nên anh H1 đã đồng ý cho Q mượn điện thoại. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại trên, Q mang bán cho anh Trần Văn C lấy số tiền 1.200.000 đồng. Phần dân sự đến nay chưa giải quyết xong.
Hành vi của bị cáo Công Tôn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ... ”
[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Công Tôn Q chưa có tiền án, tiền sự; năm 2009 bị xử phạt về tội Cướp tài sản, Cưỡng đoạt tài sản; năm 2010 bị xử phạt về tội Cướp giật tài sản. Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân xấu. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực
hiện. Do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra. anh Nguyễn Tuấn H1 yêu cầu bị cáo Công Tôn Q bồi thường số tiền 3.600.000 đồng, trong đó 3.300.000 đồng là tiền chiếc điện thoại, 300.000 đồng là tiền phí dịch vụ chở khách.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H1 theo yêu cầu; do đó, cần buộc bị cáo Q bồi thường cho anh H1 giá trị chiếc điện thoại là 3.300.000đ và trả cho anh H1 phí dịch vụ chở khách là 300.000đ. Tổng số tiền bị cáo Q phải trả cho anh H1 là 3.600.000đ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Quá trình điều tra, Công Tôn Q khai sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại trên đã bán cho anh Trần Văn C với giá 1.200.000 đồng. Quá trình điều tra anh C khai do thời gian đã lâu không nhớ có mua chiếc điện thoại trên từ Q hay không. Kiểm tra tại cửa hàng của anh C cũng không có chiếc điện thoại nào có đặc điểm như nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Công Tôn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Công Tôn Q 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 587, 589, 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Công Tôn Q phải trả cho anh Nguyễn Tuấn H1 số tiền 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm nộp nân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo bản án: Áp dụng điều 331, điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị hại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Hoàng Lan – Chu Văn Hùng |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 280/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 280/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 15 tháng tù
