Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2024/HS-ST

Ngày 24 - 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí

Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yến

Bà Đỗ Thị Thái

Bà Nguyễn Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cù Quốc Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 746/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Mạnh T, sinh năm 1974; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: phòng B T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị T2; vợ: chưa có; có 01 con, sinh năm 1998; tiền sự: không; tiền án: Ngày 11/5/1999, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 17 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành xong tiền phạt 40.000.000 đồng). Nhân thân: Ngày 29/4/1998, Công an quận Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H; có mặt.

  2. Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1983; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: số nhà B ngách F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Ngọc O và bà Đặng Thị L; vợ Lê Hồ Đ1; có 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/10/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H; có mặt.

Bị hại:

  1. Anh Cao Mạnh H, sinh năm 1983; nơi cư trú: số nhà A, D phường T, quận B, thành phố Hà Nội; có mặt.

  2. Anh Lê Bá T3, sinh năm 1983;

    Nơi cư trú: Số D ngách F ngõ C đường L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Văn C, sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (là em trai bị cáo Trần Mạnh T); có mặt.

  2. Anh Hoàng Minh P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số F phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Công N, sinh năm 1977; nơi cư trú: số nhà B, ngõ B phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; có mặt.

  2. Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1979; nơi cư trú: số nhà I ngõ A phố P, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh T: Luật sư Nguyễn Khánh T4 thuộc Công ty L4 - Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ: Luật sư Ngô Thị Thu T5 và luật sư Ngô Quốc H1 thuộc Công ty L5 - Đoàn luật sư thành phố H; luật sư H1 có mặt, luật sư T5 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 22/6/2022, Trần Mạnh T gọi điện thoại rủ người quen là anh Nguyễn Hoàng L1 đi uống bia. Anh L2 đồng ý và đi đến nhà T và ngồi ở phòng khách chờ T đi uống bia. Cùng lúc này, có anh Cao Mạnh H sử dụng điện thoại của chị Chảo Mùi K (tên gọi khác là Quỳnh N1 là bạn gái anh H) gọi điện thoại cho T. Anh H hỏi T về việc tối ngày 21/6/2022, T đưa chị K vào nhà nghỉ, đập điện thoại của chị K và đòi quan hệ tình dục chị K. Sau đó, giữa anh H và T đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau qua điện thoại. Anh H hẹn T ra quán bia ở đối diện Đình làng T, quận B để nói chuyện. T đồng ý nhưng sau đó sợ bị anh H đánh nên không ra. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, anh H và chị K đi ra khu vực quán B để chờ T nhưng không thấy. Anh H dùng điện thoại của chị K nhiều lần gọi cho T nhưng T không nghe máy. Không thấy T ra nên anh H và chị K đi về. Cùng thời gian trên, T vào phòng bếp lấy 01 con dao (loại dao phay, dài khoảng 33cm) bọc trong túi nilon màu trắng, gài con dao tại chỗ để chân xe máy SH (T không nhớ biển kiểm soát) và đi xe đến quán B1 trên phố N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội để uống bia. Tại quán B1, T gọi điện thoại rủ anh L2 ra uống bia cùng (lúc này anh L2 đang ở nhà T). Sau khi nhận điện thoại của T thì anh L2 gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Ngọc Đ rủ Đ ra phố N uống bia cùng T. Khi gặp nhau và ngồi uống bia, T kể cho Đ và anh L2 nghe việc T đang xảy ra mẫu thuẫn với anh H (người yêu của chị K) vì T cũng đang có tình cảm với chị K. Trong lúc ngồi uống bia, anh L2 thấy tại chỗ để chân xe máy của T có gài 01 con dao. Tất cả ngồi uống bia đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì T rủ anh L2 và Đ đi hát tại quán Karaoke ở số nhà F, phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Khi vào phòng hát ở tầng 2, T vẫn mang theo con dao phay bọc trong túi nilon và để phía dưới ngăn bàn của quán hát.

Khi đến quán hát thì T gọi điện thoại cho anh Nguyễn Công N rủ đến hát ở quán K1 ở số nhà F, phố T. Khi vào hát, T gọi tiếp viên nữ là chị Lý Thị D và 02 nhân viên nữ ngồi hát cùng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì anh N đến uống bia và hát cùng nhóm của T. Quá trình ngồi hát cùng nhóm T, chị D được anh Cao Mạnh H (có quan hệ quen biết từ trước) gọi điện thoại hỏi chị D có ngồi cùng T không. Chị D trả lời đang ngồi hát Karaoke với T tại số nhà F, phố T, phường T, quận B và nói với anh H về việc T có mang theo 01 con dao đến phòng hát. Thấy vậy, anh H gọi điện thoại cho bạn là anh Lê Bá T3 kể cho anh T3 về việc bạn gái của H bị T đưa vào nhà nghỉ đòi quan hệ tình dục và rủ anh T3 đi cùng đến quán K1 ở số nhà F, phố T để gặp nói chuyện với T, anh T3 đồng ý đi cùng.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi T cùng Đ, anh L3 và anh N đang ngồi hát Karaoke thì anh H và anh T3 đến trước cửa quán và nhờ anh Hoàng Minh P (là chủ quán) gọi T xuống. Lúc này, T biết là anh H đến tìm nên T cầm dao đi xuống tầng 1. Thấy T cầm dao xuống tầng 1 nên Đ cùng anh L3 và anh N đi theo phía sau. Khi T xuống tầng 1 thì anh H chỉ tay vào mặt T và hỏi: “Hôm qua mày làm gì người yêu tao”. T trả lời: “Hôm qua tao đ.t cái Như” dẫn đến T và anh H cãi chửi nhau. Thấy vậy, anh P đứng ra can ngăn không cho hai người đánh nhau. Anh T3 tưởng nhầm anh P là người cùng nhóm với T nên đã dùng tay đấm vào cổ anh P. Anh P cũng dùng tay đánh lại và đẩy anh T3 ra ngoài đường thì bị anh T3 đá 01 phát vào người. Anh P liền lao vào quật ngã anh T3 xuống đất và dùng tay đấm nhiều phát vào mặt của anh T3. Cùng lúc đó, anh H và T cũng xô đẩy nhau tại trước cửa số nhà F, phố T, Đ cầm ghế giơ lên đe dọa đánh anh H. Trong lúc xô sát, T dùng tay phải cầm dao chọc vào mặt anh H. Thấy vậy, anh N đứng bên trái T dùng tay trái kéo T lại, can ngăn không cho T đánh anh H. Còn anh L3 đứng bên phải T, nói với T: “Không đánh nhau, có gì ngồi lại nói chuyện” nhưng T vẫn xông vào để đánh anh H. Lúc này, anh H nhìn thấy anh P đang đấm anh T3 ở cửa quán nên chạy ra ngoài dùng chân đạp ngã anh P thì bị Đ, T chạy đuổi theo. Đ dùng chân đạp vào người anh H, T lao vào vung dao chém liên tiếp 04 nhát trúng vào vùng đầu của anh H. Sau đó, Đ tiếp tục đạp vào người anh T3 và T quay ra vung dao chém 01 nhát trúng vào vùng đầu của anh T3. Do anh T3 đội mũ bảo hiểm nên bị vỡ mũ bảo hiểm và bị thương tích ở đầu. Bị chém, anh T3 bỏ chạy và thuê xe ôm đến Bệnh viện Đ2 để cấp cứu và điều trị thương tích. Còn anh H đến Công an phường T, quận B để trình báo sự việc và sau đó tự đi đến Bệnh viện X-pôn để cấp cứu và điều trị thương tích.

Sau khi dùng dao chém anh H và anh T3 xong, T cùng nhóm lấy xe máy rời khỏi quán và đi về nhà.

Ngày 26/8/2022 và ngày 24/10/2023, Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ bị Cơ quan điều tra bắt tạm giam để điều tra về tội Giết người.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án, thu giữ vật chứng liên quan và trưng cầu giám định thương tích của người bị hại. Kết quả như sau:

Tại Biên bản dựng lại hiện trường vụ án hồi 16 giờ 05 phút ngày 24/6/2022, xác định:

“... Hiện trường nơi dựng lại hiện trường vụ án xảy ra ngày 22/6/2022 được xác định tại số nhà F, phố T, phường T, B, Hà Nội. Số nhà 64 Thành Công được sử dụng làm quán cà phê có treo biển “Nam Phương cà phê 64" nhà có 04 tầng 01 tum, mặt tiền rộng 3,5m phía bên phải giáp nhà số F T, phía bên trái giáp nhà số F, phía trước là vỉa hè rộng 1,9m; tiếp giáp vỉa hè là phố T rộng 6,5m. Nhà có một cửa ra vào gồm 2 lớp cửa, lớp ngoài là cửa cuốn, lớp trong là cửa kính, kích thước cửa (2,3x2,4)m. Qua cửa vào trong là phòng tầng 01 có kích thước (8,3x2,8)m, trong phòng có để bàn ghế để khách ngồi uống nước, tủ, quầy bán hàng và các đồ dùng khác...”

Vật chứng vụ án: Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã thu giữ vật chứng và đồ vật liên quan gồm:

  • - Thu giữ do Trần Mạnh T giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen, có số Imei 359174077622082; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, có số Imei 869150054037539 và 04 bốn đoạn trích xuất từ camera tại nhà của Trần Mạnh T tại phòng B, tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội.
  • - Thu giữ trong quá trình khám xét tại nhà Trần Mạnh T ở phòng B, tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội: 01 con dao bằng kim loại màu đen, chiều dài 33cm, lưỡi dao phần rộng nhất là 06cm.
  • - Bà Nguyễn Thị Minh T6 giao nộp: 01 đoạn video trích xuất camera từ số nhà F, phố T, phường T, quận B, Hà Nội liên quan đến vụ việc trên.
  • - Ông Hoàng Ngọc T7 giao nộp: 01 đoạn video trích xuất camera tại cửa nhà số nhà F, phố T, phường T, quận B, Hà Nội liên quan đến vụ việc trên.
  • - Chị Nguyễn Thị N2 giao nộp: 02 video ghi lại hình ảnh xảy ra tại trước số nhà F, phố T, phường T, quận B, Hà Nội do chị N2 quay được.

Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 980/GĐ-TTPY của Trung tâm P2 - Sở Y tế thành phố H đối với thương tích của Cao Mạnh H, như sau:

“....VI. Kết luận tại thời điểm giám định:

  1. Vết thương vùng trán - đỉnh: 01%.
  2. Vết thương đầu cung mày trái: 03%.
  3. Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái: 05%.
  4. Vỡ rạn xương sọ vùng trán trái: 08%.
  5. Chạm thương phần mềm vùng cổ, gáy không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng, không có quy định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các thương tổn này.
  6. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau (nếu có căn cứ).

Cơ chế hình hành thương tích: Do vật tày, vật tày có cạnh, vật có cạnh tương đối sắc gây nên.

Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 16% (mười sáu phần trăm)”...

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định bổ sung thương tích của anh Cao Mạnh H. Do sức khỏe đã ổn định nên anh H từ chối giám định bổ sung.

Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 976/GĐ-TTPY ngày 21/7/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố H, giám định thương tích của Lê Bá T3, kết luận:

“...VI. Kết luận tại thời điểm giám định:

  1. Vết thương vùng thái dương đỉnh trái: 01%.
  2. Vết thương vùng dưới mi dưới mắt trái: 02%.
  3. Các vết xây sát da vùng khuỷu tay hai bên: 01%.
  4. Các vết xây sát da vùng gối hai bên: 01%.
  5. Gãy xương cánh mũi trái gây biến dạng cả xương chính mũi: 09%.
  6. Chấn thương hai mắt, thị lực mắt phải không kính 20/20, mắt trái thị lực không kính 20/25, không cho điểm tỉ lệ tổn hại đối với tổn thương này.
  7. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau khi có căn cứ.
  8. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật tày, vật có cạnh sắc gây nên.

Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 14% (mười bốn phần trăm) tính theo phương pháp cộng lùi.”

Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B có công văn số 3117/CV-CQĐT đề nghị Trung tâm P2 - Sở Y tế thành phố H cho biết “đối với các thương tích của anh Cao Mạnh H và Lê Bá T3, nếu không cấp cứu kịp thời có ảnh hưởng tính mạng không?”. Tại Công văn số 925/TTPY ngày 06/10/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố H phúc đáp:

“...Trường hợp anh Cao Mạnh H, với vết thương vùng trán đỉnh, vỡ xương trán trái, tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái kích thước 17mm x 13mm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nếu máu tiếp tục chảy vào ổ tụ máu, gây tăng áp lực nội sọ dẫn đến hôn mê, tử vong.

Trường hợp anh Lê Bá T3, với các vết thương vùng đầu, vùng mặt, gãy xương cánh mũi trái, ít khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, trừ trường hợp tổn thương vùng mũi chảy nhiều máu, khó cầm, gây ngạt mũi, có thể suy hô hấp cấp do hít máu vào đường thở, gây bít tắt đường thở.”

Tại bản Kết luận giám định số 7472/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận: “... Không phát hiện dấu vết máu người trên con dao loại dao phay, kim loại màu đen, đầu dao vát thẳng, dài khoảng 33cm, phần lưỡi dao rộng nhất khoảng 06cm, phần lưỡi dao nhỏ nhất 05cm gửi giám định. Trên dao gửi giám định có bám dính AND người, do lượng dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém nên không phân tích được kiểu gen".

Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Mạnh T không thừa nhận dùng dao chém anh H. T khai cầm theo thanh sắt dẹt dài khoảng 30cm nhặt ở đường mang theo để phòng thân. Tại quán Karaoke ở số nhà F, phố T, T dùng thanh sắt vụt vào đầu anh H khoảng 04 - 05 cái và 01 cái vào đầu anh T3. Căn cứ kết quả điều tra, lời khai của Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Công N, chị Lê Thị D1 và biên bản thu giữ camera tại nhà của T và tại quán Karaoke, biên bản tạm giữ, biên bản nhận dạng con dao thu được, đủ căn cứ xác định T sử dụng con dao phay dài khoảng 33cm chém vào đầu của anh H và anh T3.

Đối với Nguyễn Công N và Nguyễn Hoàng L1 là những người bạn đi cùng với bị can Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ. Quá trình T và Đ đánh anh H, anh T3 thì L1 và N không tham gia đánh nhau. Khi thấy T đánh H, N đã nhiều lần dùng tay kéo T lại để can ngăn, còn L1 nói với T: “Không đánh nhau có gì ngồi lại nói chuyện” nhưng T vẫn dùng dao chém anh H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự đối với N và L1.

Đối với Hoàng Minh P có hành vi dùng tay phải đấm vào mặt của anh Lê Bá T3 04 - 05 cái, là do P chống trả lại khi bị anh T3 đánh trước, hành vi này xảy ra trước khi anh T3 bị T và Đ đánh nên không đồng phạm với T, Đ về tội Giết người. Do anh T3 không có yêu cầu về thương tích do P gây ra cho anh nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với P.

Đối với Cao Mạnh H và Lê Bá T3 đến tìm Trần Mạnh T tại quán K1 ở số F, phố T, phường T, quận B, Hà Nội. T3 có hành vi dùng tay đấm vào cổ anh Hoàng Minh P và H dùng chân đạp vào người anh P. Tại Cơ quan điều tra, do anh P từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý và bồi thường gì về việc bị đánh nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H và T3.

Đối với vụ việc, anh Cao Mạnh H cho rằng Trần Mạnh T có hành vi đe doạ đòi quan hệ tình dục với chị Chảo Mùi K, chị K khai T có đưa chị K vào nhà nghỉ tại phố N, phường L, quận Đ, Hà Nội nhưng mục đích là để anh H biết, ghen tuông và bỏ chị K để chị K đến với T. Sau đó T đã trả lại điện thoại và không có hành xâm hại tình dục đối với chị K nên không có căn cứ xử lý T vụ việc trên.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, gia đình bị cáo Trần Mạnh T đã bồi thường cho Cao Mạnh H 75.000.000 đồng và bồi thường cho Lê Bá T3 25.000.000 đồng. Các bị hại đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm hình phạt cho các bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 660/CT-VKSHN-P2 ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Mạnh T về tội Giết người theo quy định tại điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ về tội Giết người theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 ; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Mạnh T từ 13 năm đến 15 năm tù. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123 ; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc Đ từ 07 năm tù đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại đã nhận được tiền bồi thường từ gia đình bị cáo, không có yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh T có ý kiến tranh luận như sau: Tôi không có ý kiến về tội danh của bị cáo, tôi đề nghị tòa xem xét việc truy tố bị cáo T theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự đã chính xác hay chưa? Vì các bị cáo chém anh T3 chỉ gây thương tích 1% nên không thể buộc các bị cáo tội giết anh T3. Bị cáo là người chủ động không gặp anh H để tránh xảy ra mâu thuẫn nhưng anh H lại là người chủ động tìm T nên việc truy tố bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ là chưa thỏa đáng. Bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị tòa xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có ý kiến tranh luận như sau: Bị cáo Đ không biết T chém anh H, anh T3 nên đề nghị tòa xem xét bị cáo Đ có đồng phạm với T hay không? Bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố H, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Lời khai của các bị cáo Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc Cao Mạnh H và Trần Mạnh T cùng có quan hệ tình cảm đối với chị Chảo Mùi K nên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 16 giờ ngày 22/6/2022, anh H gọi điện thoại cho T và hẹn gặp nhau tại khu vực đình làng T để nói chuyện nhưng T sợ bị đánh nên không đến. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T mang theo 01 dao dài khoảng 30cm, loại dao phay bọc vào túi nilon mầu trắng, gài con dao tại chỗ để chân xe máy rồi đi đến quán bia Minh P1 trên phố N để uống bia. Tại đây, T gọi anh Nguyễn Hoàng L1 ra uống bia cùng. L1 gọi thêm Nguyễn Ngọc Đ. Quá trình uống bia, T kể sự việc có xảy ra mâu thuẫn đối với H là người yêu chị K cũng là người T có tình cảm cho L1 và Đ nghe. Sau khi uống bia xong, T rủ anh L1 và Đ đi ăn và hát karaoke tại quán hát số F, phố T, quận B, thành phố Hà Nội. Khi vào phòng hát, T vẫn mang theo dao để dưới ngăn bàn. Đến 21 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Công N đến hát cùng nhóm của T. Khi biết T đang hát tại số F, phố T thì anh H gọi điện cho Lê Bá T3 đi cùng đến quán K1 để gặp T. Tại đây, H và T lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau nên anh P là chủ nhà hàng đứng ra can ngăn, nhưng bị T3 tưởng nhầm là người cùng nhóm với T nên đã đấm vào cổ anh P. Lúc này, H và T cùng xô đẩy nhau tại trước số nhà F, phố T, Đ cầm ghế giơ lên đe dọa đánh H. T dùng dao chọc vào mặt anh H. Anh N, anh L1 đứng cạnh can ngăn T không cho đánh H. Nhìn thấy anh P đang đấm anh T3 nên H chạy ra ngoài dùng chân đạp ngã anh P thì bị Đ, T đuổi theo. Đ dùng chân đạp vào người anh H, T lao vào vung dao chém liên tiếp 04 nhát trúng vào đầu anh H, gây ra vết thương vùng trán – đỉnh, vết thương đầu cung mày trái, vỡ rạn xương sọ vùng trán trái. Sau đó, Đ tiếp tục đạp vào người anh T3, T quay ra vung dao chém 01 nhát trúng vào vùng đầu anh T3 làm vỡ mũ bảo hiểm, gây ra vết thương ở thái dương đỉnh trái. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh H là 14%, anh T3 là 01%.

Hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng trán – đỉnh của anh H và chém vào vùng đầu anh T3 đều là những vùng trọng yếu trên cơ thể, việc anh H, T3 không chết là nằm ngoài ý muốn của các bị cáo; hành vi này của bị cáo Trần Mạnh T, Nguyễn Ngọc Đ đã phạm vào tội Giết người, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự. Nguyên nhân của vụ án chỉ xuất phát từ một mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng do thiếu kiềm chế nên Trần Mạnh T đã chuẩn bị hung khí để thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện tính chất côn đồ trong hành vi phạm tội của bị cáo nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là “Giết 02 người trở lên” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2]. Hành vi của bị cáo Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Xuất phát từ nguyên nhân nhỏ nhặt mà các bị cáo đã thực hiện hành vi có thể dẫn đến việc anh H, T3 tử vong, điều này thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra để nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trần Mạnh T là người trực tiếp mâu thuẫn với anh H, là người chuẩn bị hung khí và trực tiếp gây ra thương tích cho anh H và anh T3. Mặt khác, năm 1999 bị cáo T bị xử phạt 17 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Bị cáo Đ là đồng phạm tích cực, dùng tay chân đánh anh H và anh T3 nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm. Với vai trò, nhân thân như vậy thì mức hình phạt của bị cáo T phải cao hơn bị cáo Đ.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo phạm tội chưa đạt; các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và bị hại xin giảm hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

[2.3]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho anh H 75.000.000 đồng và anh T3 25.000.000 đồng. Anh H, T3 đã nhận đủ không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.4]. Về xử lý vật chứng: Bị cáo H sử dụng điện thoại vào việc gọi điện thách thức đánh nhau nên cho tịch thu sung quỹ nhà nước. Bị cáo dùng dao để phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[2.5]. Đối với anh Nguyễn Công N và anh Nguyễn Hoàng L1 cơ quan điều tra không xử lý hình sự. Cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với anh Hoàng Minh P có hành vi gây thương tích cho anh T3 nhưng anh T3 không yêu cầu xử lý hình sự; cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.6]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2.7] Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh TNguyễn Ngọc Đ phạm tội Giết người.

  2. Căn cứ điểm a, n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Mạnh T: 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2022.

  3. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc Đ: 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.

  4. Căn cứ khoản điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 con dao, loại dao phay, kim loại mầu đen, đầu dao vát phẳng, dài khoảng 33cm, phần lưỡi dao rộng nhất khoảng 6cm, phần lưỡi dao nhỏ nhất 5cm.

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone mầu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Realme mầu xanh, số imei: 869150054307537.

    (tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội).

  5. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc Trần Mạnh T và Nguyễn Ngọc Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Công an TP. Hà Nội;
  • - Cục thi hành án dân sự TP. Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • - Trại tạm giam số 1;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐINH QUỐC TRÍ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 280/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về giết người

  • Số bản án: 280/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết Người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger