Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2024/DS-ST

Ngày 26/9/2024.

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Hách

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai

Bà Trần Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/2024/TLST-DSST ngày 29 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 271A/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1);

Địa chỉ trụ sở: Số B - BN, Phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan A - Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; Địa chỉ: Tầng B số B - B Bà T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Kim T, sinh năm: 1978;

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số C N, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/01/2024 và văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S ông Phan A trình bày như sau:

Ngày 29/3/2017, bà Lê Kim T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng). Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ số thẻ 486265 – 7075 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.190.577.718 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.157.437.292 đồng. (Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/04/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn: 2.6% x 150% = 3,9%/tháng.

Tính đến ngày 26/9/2024, bà T còn nợ Ngân hàng tổng cộng: 127.021.869 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 58.186.739 đồng, lãi quá hạn 68.835.130 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Lê Kim T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 127.021.869 (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng).

Buộc bà Lê Kim T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 26/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Về án phí: Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, ngân hàng không có yêu cầu gì khác.

Quá trình tiến hành giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo cho bà Lê Kim T biết Tòa án đã thụ lý vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng do Ngân hàng TMCP S khởi kiện đối với bà Lê Kim T và triệu tập bà T đến Tòa để giải quyết vụ án, nhưng bà T không đến Tòa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng TMCP S có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa buộc bà Lê Kim T thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 127.021.869 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 58.186.739 đồng, lãi quá hạn 68.835.130 đồng.

Tại phiên tòa bà Lê Kim T vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa có ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa nhận định, đánh giá tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S với bà Lê Kim T và có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bà Lê Kim T có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 26/9/2024 là: 127.021.869 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tương ứng với thời gian chưa thanh toán.

Bà Lê Kim T phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án dân sự này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Lê Kim T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại số C N, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, triệu tập bà Lê Kim T đến tham gia phiên tòa, thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự tại phiên tòa nhưng bà T vẫn vắng mặt. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ngân hàng TMCP S và bà Lê Kim T là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ký ngày 29/3/2017 giữa Ngân hàng TMCP S và bà Lê Kim T được các bên ký trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy xác định là Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành với các bên. Bà T được cấp thẻ số thẻ 486265 - 7075 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 2.190.577.718 đồng, bà T đã thanh toán cho ngân hàng là 2.157.437.292 đồng (Bằng chữ: Hai tỉ, một trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, hai trăm chín mươi hai đồng). Sau đó bà T không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng nữa mặc dù đã được Ngân hàng làm việc, nhắc nhở nhiều lần. Ngày 01/4/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà T sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Nay ngân hàng xác nhận tạm tính đến ngày 30/9/2024 bà Lê Kim T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi là: 127.021.869 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 58.186.739 đồng, lãi quá hạn 68.835.130 đồng. Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Lê Kim T phải thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi nêu trên.

[3.1]. Xét yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc: 58.186.739 đồng, Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bản sao kê sử dụng thẻ tín dụng của bà Lê Kim T với Ngân hàng TMCP S đủ cơ sở xác nhận bà Lê Kim T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 58.186.739 đồng (Năm mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi chín đồng) nên việc Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Lê Kim T phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ gốc trên là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2]. Xét yêu cầu tính lãi: căn cứ Điều 23 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S quy định: Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát sinh thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán. Bà Lê Kim T sử dụng thẻ từ ngày 29/3/2017 quá trình sử dụng thẻ bà Lê Kim T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã nhắc nhở bà T, qua nhiều lần làm việc nhưng bà T không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nên ngày 01/4/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà T sang nợ quá hạn là đúng quy định của hợp đồng và phù hợp với các quy định của pháp luật về lãi suất được quy định khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tạm tính đến ngày 26/9/2024, bà T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 58.186.739 đồng (Năm mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi chín đồng), lãi suất quá hạn được tính bằng 150% lãi suất trong hạn, tính từ ngày 01/4/2022 đến ngày 26/9/2024 là: 68.835.130 đồng (Sáu mươi tám triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn một trăm ba mươi đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc bà Lê Kim T phải thanh toán số tiền nợ lãi quá hạn là: 68.835.130 đồng ( Sáu mươi tám triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn, một trăm ba mươi đồng).

Như vậy, số tiền nợ gốc và lãi bà Lê Kim T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S là: 127.021.869 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng).

Về án phí: Ngân hàng TMCP S được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án dân sự sơ thẩm. Bà Lê Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Căn cứ các Điều 463, 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bà Lê Kim T về việc thanh toán số tiền chậm trả theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Xác nhận bà Lê Kim T còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi là 127.021.869 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 58.186.739 đồng, lãi quá hạn 68.835.130 đồng.

Buộc bà Lê Kim T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền là 127.021.869 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng).

Về án phí: Bà Lê Kim T phải chịu 6.351.093 đồng (Sáu triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, không trăm chín mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần S 2.632.808 đồng (Hai triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn tám trăm linh tám đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 19/03/2024 tại Công ty cổ phần T1, đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xử án sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, Ngân hàng thương mại cổ phần S và bà Lê Kim T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Công Hách

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 280/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 280/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger