|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 280/2024/HS-PT Ngày: 12-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh;
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 227/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Dương Trí T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2023/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.
- Bị cáo kháng cáo:
Dương Trí T, sinh năm 1980 tại An Giang. Nơi cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn B (chết) và con bà Hồ Thị M; Vợ: Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1983; Có 02 người, con lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Tiền sự, tiền án: Không có;
Nhân thân: Ngày 31/7/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/2014, đã xóa án tích.
+ Ngày 23/3/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018, đã xóa án tích.
Tạm giữ: Ngày 04/4/2024 đến ngày 13/4/2024 thì tại ngoại; Bắt tạm giam: Ngày 16/5/2024. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo khác, bị hại, người liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 40 phút ngày 04/4/2024, Dương Trí T điều khiển xe mô tô gắn biển số 67D2-294.47 chạy trên đường Quốc lộ 54 tìm tài sản chiếm đoạt. Khi đến trước công ty TNHH S thuộc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, T phát hiện trước cổng công ty có 01 xe ô tô tải biển số 64C-069.36 đang đậu, cửa kính xe bên phải đang mở, không có người trên xe. Lúc này, T chạy xe đậu sát xe ô tô tải rồi đi đến chòm người qua cửa kính lấy 01 cái bóp da màu nâu, bên trong có tiền Việt Nam 2.152.000 đồng, đang để gần cần số xe của anh Huỳnh Văn Ú. Sau đó, T lục soát và lấy toàn bộ số tiền trong bóp da cất giấu vào túi quần phía sau bên phải rồi ném bóp da vào cabin xe. Trong lúc T lấy trộm tiền thì bị ông Trần Văn X là bảo vệ công ty nhìn thấy và cũng là thời điểm anh Ú đi bộ về gấn đến xe ô tô tải. Khi T chuẩn bị điều khiển xe bỏ chạy ra đường Q thì ông X ra tín hiệu thông báo cho anh Ú biết T đã trộm tài sản trên xe. Thấy vậy, anh Ú truy hô rồi cùng với anh Văng Minh H bắt giữ T. T xin anh Ú bỏ qua sự việc và trả lại số tiền 2.152.000 đồng nhưng anh Ú không đồng ý và điện thoại trình báo Công an xã T đến giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ vật chứng, tài sản, đồ vật gồm:
- - Tiền Việt Nam: 2.152.000 đồng;
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future Neo, màu sơn đỏ đen, số máy JC350396126, số khung RLHJC35086Y306122, gắn biển số 67D2-294.47 đã qua sử dụng;
- - 02 đoạn video ghi lại hình ảnh Dương Trí T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Huỳnh Văn Ú vào ngày 04/4/2024, trích xuất từ hệ thống camera an ninh của công ty TNHH S được lưu trong 01 đĩa DVD.
- Ngày 28/4/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trao trả lại số tiền 2.152.000 đồng cho anh Huỳnh Văn Ú.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future Neo, màu sơn đỏ đen, số máy JC350396126, số khung RLHJC35086Y306122 là của anh Dương Hồ V (anh ruột của Dương Trí T) đứng tên chủ sở hữu và có biển số 67B1-374.87. Khoảng đầu tháng 3/2024, anh V có cho T mượn xe để làm phương tiện đi lại. Quá trình sử dụng, T làm rơi mất biển số 67B1-374.87 và có nhặt được biển số 67D2-294.47 trên đường đi buôn bán nhưng không nhớ rõ địa điểm. Ngày 04/4/2024, T gắn biển số 67D2-294.47 vào xe mô tô của anh V rồi sử dụng xe vào việc phạm tội. Anh V không biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại xe cho anh V nhận lại xong.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Hồ V không yêu cầu Dương Trí T bồi thường biển số 67B1-374.87 bị mất nên không đặt vấn đề giải quyết.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2023/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Dương Trí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Dương Trí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024 (được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 13/4/2024).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, bị cáo Dương Trí T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Dương Trí T với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh khó khăn nhưng cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Trí T giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Dương Trí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 05 giờ 40 phút ngày 04/4/2024, trước cổng công ty TNHH S thuộc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, Dương Trí T có hành vi lén lút lấy cái bóp da để trên ca bin xe của anh Ú lấy chiếm đoạt số tiền 2.152.000 đồng của anh Huỳnh Văn Ú nhằm mục đích tiêu xài cá nhân.
- Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Dương Trí T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản là sai trái và vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện chứng tỏ lỗi của bị cáo là lỗi cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
- Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Dương Trí T về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh khó khăn nhưng cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản và lần gần nhất với mức án 01 năm 06 tháng tù nên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Trí T giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên là phù hợp nên chấp nhận.
- Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Trí T giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Dương Trí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Dương Trí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024 (được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 13/4/2024).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Dương Trí T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Phạm Minh Tùng |
Bản án số 280/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 280/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm.
