Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 280/2024/HS-ST

Ngày: 15/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Sơn

Ông Păng Ting Nock

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 302/2024/TLST- HS ngày 09/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn K, tên gọi khác: không; Sinh ngày 10 tháng 7 năm 1999, tại: Phú Yên; HKTT: thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ C, sinh năm 1971 và bà Hồ Thị T, sinh năm 1974; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 29/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Bà Phan Thị Bích P, sinh năm 1974. Địa chỉ: C Nguyên Tử L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977. Địa chỉ: A R, tổ E, khu phố G, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Hồ Thị D, sinh năm 1980. Địa chỉ: A N L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ M, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998. Địa chỉ: B Đ, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Nguyễn Trung T3, sinh năm 1985. Địa chỉ: F V, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn K là đối tượng không có việc làm, không có nơi ở nhất định. Vào tháng 02/2024, K từ Phú Yên lên thành phố Đ để kiếm việc làm nhưng không có. Để có tiền tiêu xài, từ ngày 19/7/2024 đến ngày 29/7/2024, K đã thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ cụ thể như sau:

Lần 1: Vào khoảng 08 giờ ngày 19/7/2024, khi K đi bộ ngang qua nhà ở địa chỉ A N L, Phường H, thành Đ, tỉnh Lâm Đồng thì nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda RSX, biển số 49B2-041.29 của chị Phạm Thị Bích P1 để ở trong sân nhà, đuôi xe hướng ra đường, trên xe có cắm chìa khoá, không có người trông coi nên K đi bộ vào sân rồi dắt xe ra ngoài, bật chìa khoá điện đề xe nổ máy rồi tẩu thoát. K điều khiển xe mô tô đi vào thị trấn L mục đích là để tìm kiếm tiệm mua bán xe cũ hoặc tiệm phế liệu đề bán xe lấy tiền tiêu xài. Khi K đi đến địa phận P, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng gặp tiệm sửa xe “Phụ tùng 37” tại địa chỉ: B Đ, Phường G, thành phố Đ, K vào bán xe cho anh Nguyễn Văn T2 – chủ tiệm với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Số tiền này K đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 140/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, số khung: RLHJA3845MY113623, số máy: JA52E0247551, màu xám đen, biển số: 49B2-041.29 mua năm 2021, đã qua sử dụng trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 3667/QĐ-ĐTTH bằng hình thức trả lại tài sản trên cho chị Phan Thị Bích P, chị P không có yêu cầu gì thêm.

Lần 2: Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 23/7/2024, K đi bộ đến nhà dân tại B Nguyên Tử L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, thấy 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 49B1-003.08 của anh Nguyễn Văn H đang dựng ở trước sân nhà có cắm sẵn chìa khoá ở trên xe, đuôi xe hướng ra ngoài đường, không có người trông coi nên K đã vào trong dắt xe ra, nổ máy điều khiển xe đi đến tiệm phế liệu tại địa chỉ F V, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và bán xe mô tô trên cho chủ tiệm phế liệu là anh Nguyễn Trung T3 với giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng). Số tiền này K đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 140/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, số khung: AY420630, số máy: 420683, màu đỏ đen, biển số 49B1-003.08 mua năm 2011, đã qua sử dụng trị giá 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 3667/QĐ-ĐTTH bằng hình thức trả lại tài sản trên cho anh Nguyễn Văn H, anh H không có yêu cầu gì thêm.

Lần 3: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/7/2024, K đi bộ đến nhà dân tại địa chỉ số A N L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thấy 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 75F3-8561 của chị Hồ Thị D, sinh năm 1980, nơi cư trú: A Nguyên Tử L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng dựng ở trên vỉa hè có cắm sẵn chìa khoá ở trên xe, đầu xe hướng xuống bờ hồ, không có người trông coi nên K đi lại vị trí chiếc xe, dắt đi một đoạn cách đó khoảng 02 căn nhà thấy không có ai phát hiện nên K ngồi lên xe nổ máy tẩu thoát. K điều khiển xe mô tô đi qua các tuyến đường hỏi các tiệm nhưng không có ai mua xe. Khi K đi đến trước chợ ở đường H thì gặp một người phụ nữ thu mua phế liệu dạo, K hỏi có mua phế liệu không, K hỏi bán xe thì người này hỏi có giấy tờ không, K nói xe mẹ mua ở quê không có giấy tờ gửi lên cho K đi làm mà xe bị hư lốc máy nên bán lại. Nghe vậy thì người phụ nữ này đồng ý mua với giá 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Số tiền này K tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 140/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 xe mô tô Nhãn hiệu Wana, màu xanh, số khung: XCHLL7Y-1033912, số máy: 152FMH-00333912, biển số: 75F3-8561 mua năm 2000, đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Chị D yêu cầu được bồi thường thường số tiền 1.000.000 đồng tương đương với giá trị chiếc xe không thu hồi được.

Lần 4: Vào khoảng 16 giờ ngày 29/7/2024, K đi bộ đến khu vực Vườn hoa thành phố để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến Tiệm H1, địa chỉ: Số B T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, K quan sát thấy phía bên trong tiệm không có nhân viên trông coi nên K đi vào bên trong tiệm thấy tại vị trí bàn trước cửa kho của tiệm có 01 điện thoại di động hiệu Samsung A70 của chị Nguyễn Thị T1 (là nhân viên Tiệm hoa LangFarm). Khải tiến đến sát bàn, dùng tay lấy điện thoại cất giấu vào trong túi quần rồi bỏ đi khỏi tiệm về hướng đường N L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi K đang đi bộ đến đoạn Ngã ba H - Nguyên Tử L thì bị lực lượng Công an Phường 8 phát hiện bắt giữ, thu giữ trên người Khải 01 điện thoại di động hiệu Samsung A70.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 140/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A70, dung lượng 128GB, IMEI: 355915103461851, đã qua sử dụng trị giá 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 3667/QĐ-ĐTTH bằng hình thức trả lại 01 điện thoại trên cho chị Nguyễn Thị T1, chị T1 không có yêu cầu gì thêm.

Tổng giá trị tài sản Võ Văn K đã trộm cắp là 27.700.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 298/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Võ Văn K về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố các bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt : Võ Văn K từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Bị cáo khác không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Từ ngày 19/7/2024 đến ngày 29/7/2024, Võ Văn K đã thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ, chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể: Chiếm đoạt của chị Phan Thị Bích P xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu xám đen, biển số: 49B2-041.29, trị giá 15.000.000 đồng; Anh Nguyễn Văn H xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số: 49B1- 003.08, trị giá là 7.500.000 đồng; Chị Hồ Thị Diệu X mô tô Nhãn hiệu Wana, màu xanh biển số: 75F3-8561, trị giá là 2.500.000 đồng; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T1 điện thoại di động hiệu Samsung A70 trị giá là 2.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Võ Văn K trộm cắp là 27.700.000 đồng (hai mươi bảy triệu bảy trăm ngàn đồng).

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác trái pháp luật nhưng chỉ vì không có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo K đã lén lút chiếm tài sản của bị hại có trị giá 27.700.000 đồng. Hành vi phạm tội bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi và hậu quả các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình cũng cần xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    Võ Văn K 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Công an thành phố Đà Lạt;
  • - THA thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Vân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 280/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 280/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Kh 24 (hai mươi bốn) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger