|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 280/2024/DS-ST Ngày: 25 - 9 - 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Bình
Bà Trần Thị Phối
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 300/2023/TLST-DS ngày 14/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2024/QĐXXST-DS ngày 12/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 248/2024/QĐST-DS ngày 04/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ F, khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Huỳnh Duy T, sinh năm 1983, địa chỉ: 128/3/6 đường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1993, địa chỉ: 11B đường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
Tại phiên tòa, ông T có mặt, ông T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Duy T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh M trình bày:
Do có quan hệ quen biết với ông Phạm Ngọc T1 nên trong năm 2022, 2023 bà M nhiều lần cho ông T1 mượn tiền tổng cộng 215.000.000 đồng, cụ thể như sau: Lần 1, ngày 28/5/2022 cho mượn số tiền 55.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận ông T1 trả góp mỗi tháng 5.000.000 đồng trong vòng 11 tháng kể từ ngày 28/6/2022; Lần 2, ngày 16/01/2023 cho mượn số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn trả đến ngày 16/5/2023; Lần 3, ngày 12/4/2023 cho mượn số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn trả đến ngày 12/9/2023. Tại mục người mượn tiền ông T1 là người trực tiếp ký và ghi chữ “Phạm Ngọc T1” vào các tờ giấy nói trên. Tuy nhiên sau khi giao nhận tiền xong ông T1 không trả nợ cho bà M, nhiều lần bà M tìm mọi cách để gặp ông T1 yêu cầu trả nợ nhưng ông T1 cố tình né tránh. Nay bà M khởi kiện yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền gốc 215.000.000 đồng.
Tại đơn khởi kiện, bà M yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ cho bà số tiền gốc 215.000.000 đồng và lãi suất tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, phía nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần lãi suất.
Ngoài trình bày trên, ông không có ý kiến yêu cầu hay đề nghị gì khác.
- Bị đơn ông Phạm Ngọc T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa không lấy được lời khai.
*/ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh M: Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền gốc 215.000.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán lãi suất theo quy định. Về án phí: đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Ngọc T1 mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T1.
[2] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phía nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi đối với khoản nợ gốc 215.000.000 đồng. HĐXX thấy rằng, phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện như trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX chấp nhận việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của đương sự.
[3] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh M khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phạm Ngọc T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền gốc 215.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: Căn cứ vào các tờ “Giấy mượn tiền” đề ngày 28/5/2022 có nội dung chính ông T1 có mượn của bà M số tiền 55.000.000 đồng, thời hạn trả trong vòng 11 tháng bắt đầu từ ngày 28/6/2022, mỗi tháng 5.000.000 đồng; tờ “Giấy mượn tiền” đề ngày 16/01/2023 ông T1 mượn bà M số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn trả đến ngày 16/5/2023 và tờ “Giấy mượn tiền” đề ngày 12/4/2023 ông T1 có mượn bà M số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn trả đến ngày 12/9/2023. Theo phía nguyên đơn trình bày, xuất phát từ chỗ quen biết tin tưởng, bà M thấy ông T1 mượn tiền vì đang gặp khó khăn về kinh tế nên bà cho ông T1 mượn tổng cộng 215.000.000 đồng. Tuy nhiên sau khi giao nhận tiền xong ông T1 không trả tiền cho bà M theo thời hạn như các giấy nợ mà hai bên đã thỏa thuận, ông T1 cố tình né tránh, dẫn đến việc bà M khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa triệu tập, tống đạt nhiều lần nhưng bị đơn ông Phạm Ngọc T1 cố tình vắng mặt, Tòa không lấy được lời khai, ông T1 không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định. Qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để HĐXX xác định, việc vay mượn giữa bên cho vay bà M với bên vay ông T1 là hợp đồng vay có thời hạn, tổng số tiền ông T1 đã vay của bà M theo các tờ “Giấy mượn tiền” là 215.000.000 đồng, các khoản vay đều đã đến hạn thanh toán nhưng ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà M là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên có căn cứ để HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông T1 phải có nghĩa vụ trả nợ gốc 215.000.000 đồng cho bà M là có căn cứ theo quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự.
[4] Về án phí DSST: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn ông T1 phải chịu án phí 10.750.000 đồng (5% x 215.000.000 đồng). Nguyên đơn bà M không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh M: Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thanh M tổng số tiền gốc 215.000.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu đồng).
- Về án phí DSST: Bà Nguyễn Thị Thanh M không phải chịu nên được hoàn lại số tiền 5.375.000 đồng (Năm triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Thanh M đã nộp theo biên lai số 0000111 ngày 14/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Bị đơn ông Phạm Ngọc T1 phải chịu 10.750.000 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
- Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Định |
Bản án số 280/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 280/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay
