|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 280/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-9-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Trương Phước Công;
- ông Tô Ngọc Liêm.
- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: ông Lê Trần Long - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 504/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 837/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: anh Trương Tuấn T1, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày, chị T chung sống với anh T1 có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã L cấp chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 129, ngày đăng ký 24/9/2015. Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung: Trương Tuấn A, sinh ngày 30/9/2015, Trương Quỳnh A1, sinh ngày 07/8/2019.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm đầu. Từ khoảng năm 2020 đến năm 2021 do áp lực kinh tế, vợ chồng không còn tiếng nói chung, chị T phải tự gồng gánh kinh tế một mình, còn anh T1 ham chơi, không biết lo lắng, chăm sóc cho gia đình, chị T đã nhiều lần trao đổi với chồng về vấn đề trên nhưng anh T1 không chịu sửa đổi. Chị T và anh T1 sống ly thân kể từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Vì vậy, chị T yêu cầu ly hôn anh T1, yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản.
Tại phiên tòa:
Ý kiến của chị T: giữ nguyên yêu cầu ly hôn, vợ chồng không còn hợp nhau do mâu thuẫn về kinh tế, nợ nần, anh T1 cũng không chịu lo cho gia đình, kể từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Hiện tại, đứa con gái Trương Quỳnh A1 đang sống chung với chị T, còn đứa con trai Trương Tuấn A thường sống chung với anh T1 mà không được anh T1 quan tâm dạy dỗ, thỉnh thoảng Tuấn A có về sống chung với chị T được vài ngày. Trường hợp, con có nguyện vọng sống chung chị T thì chấp nhận nuôi con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: về quan hệ hôn nhân, chị T, anh T1 mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, anh T1 cũng không có ý kiến phản hồi cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, chị T xác định không còn tình cảm nên mục đích hôn nhân không đạt.
Về quan hệ con chung: Cháu Tuấn A đã trên 07 tuổi, Tòa án tiến hành lấy ý kiến của cháu Tuấn A có nguyện vọng sống với chị T. Bên cạnh đó, cháu Quỳnh A1 sống với chị T từ khi vợ chồng ly thân, phát triển tốt về thể chất, tinh thần nên tiếp tục giao các cháu Tuấn A, cháu Quỳnh A1 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và chị T không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- - Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1.
- - Chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung gồm: Trương Tuấn A, sinh ngày 30/9/2015, Trương Quỳnh A1, sinh ngày 07/8/2019, anh T1 không cấp dưỡng cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:
[1] Chị T có đơn khởi kiện đối với anh T1 về yêu cầu ly hôn, nuôi con. Anh T1 có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị T có mặt; anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị T và anh T1 là vợ chồng hợp pháp, được nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, theo lời khai của chị T, lời khai người làm chứng bà Võ Thị Kim N là bác dâu của chị T và anh T1 do Tòa án thu thập cho thấy vợ chồng chị T, anh T1 chung sống với nhau xảy ra mâu thuẫn về kinh tế, anh T1 không biết quan tâm, chia sẻ nợ nần mặc cho chị T bị áp lực kinh tế gia đình làm cho vợ chồng sống ly thân gần 01 năm nay, không còn yêu thương, quan tâm lẫn nhau. Mặt khác, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T1 nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải tình cảm vợ chồng nhưng anh T1 không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như đã bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[3] Như vậy, tình trạng vợ chồng chị T, anh T1 thường xuyên sống ly thân, bỏ mặc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu ly hôn anh T1 là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án chấp nhận khởi kiện của chị T về yêu cầu ly hôn anh T1.
[4] Khi ly hôn, chị T yêu cầu trực tiếp nuôi con Trương Quỳnh A1 và Trương Tuấn A. Theo lời khai của chị T cho thấy chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng con trương Quỳnh A1, sống ổn định, gắn bó thân thiết với chị T trong thời gian vợ chồng sống ly thân, con được quan tâm, chăm sóc tốt. Bên cạnh đó, mặc dù con Trương Tuấn A đang sống chung với anh T1 nhưng trẻ lại có nguyện vọng, thích sống chung với chị T. Mặt khác, anh T1 không có ý kiến tranh chấp yêu cầu nuôi con. Như vậy, chị T yêu cầu trực tiếp nuôi con là có căn cứ.
[5] Theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con Trương Quỳnh A1 và Trương Tuấn A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Sau khi ly hôn, chị T phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T1 thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[6] Chị T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng cho con, tài sản nên Tòa án không giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Về án phí sơ thẩm: chị T phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn anh Trương Tuấn T1;
- Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Trương Tuấn T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 129, ngày đăng ký 24/9/2015 của Ủy ban nhân dân xã L, không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Giao con Trương Tuấn A, sinh ngày 30/9/2015, Trương Quỳnh A1, sinh ngày 07/8/2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con; Anh T1 không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Trương Tuấn T1.
- Về án phí sơ thẩm: chị T phải chịu 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0015681 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
- Chị T có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án. Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tâm Nhân |
Bản án số 280/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 280/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn anh T1
