TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 280/2024/HS-PT
Ngày: 20-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Bà Phạm Uyên Thy
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 230/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2024/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 35/11/4/10/3 C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Lý Thị H2; Bị cáo chưa có chồng, có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 25/01/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc H là chủ doanh nghiệp Công ty TNHH T4. H thuê các địa điểm tại tầng trệt nhà số A đường L, phường B, Quận A (thuộc khách sạn A) và tầng trệt nhà số D đường T, phường B, Quận A (thuộc khách sạn H5), hoạt động kinh doanh ngành nghề massage spa. Do hoạt động kinh doanh không hiệu quả, H có chủ trương cho nhân viên bán dâm với khách và yêu cầu khách phải trả cho H 1.000.000 đồng trước để H cho phép nhân viên ra ngoài thực hiện hành vi bán dâm, ngoài ra H còn đặt ra mức giá bán dâm là 2.000.000 đồng/01 giờ/01 người, trong đó H sẽ hưởng 1.000.000 đồng, nhân viên hưởng 1.000.000 đồng.
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, H đang ở cơ sở kinh doanh tại số A đường L, phường B, Quận A thì nhân viên Nguyễn Thị Phương C báo cho H biết có anh Nguyễn Quang T và anh Trương Hùng T1 đến cơ sở số 47 đường T, phường B, Quận A yêu cầu massge body nên H đến cơ sở số 47 đường T, phường B, Quận A thu tiền tiền vé. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, nhân viên Dư Khánh H3 nhắn tin cho H biết việc anh T, T1 có nhu cầu mua dâm của H3 và các nhân viên Dư Khánh N, Nguyễn Thị Phương C. Sau đó, H đến gặp và thu của T1 1.000.000 đồng do T1 yêu cầu mua dâm nhân viên Dư Đoàn Khánh N1, thu tiền của T 2.000.000 đồng do T yêu cầu mua dâm của 02 nhân viên Nguyễn Thị Phương C và Dư Khánh H3, đây là tiền để H cho nhân viên ra ngoài bán dâm cho T, T1. Sau đó, H đi lên quầy tiếp tân khách sạn H5 gặp lễ tân là chị Đặng Minh T2 đặt 02 phòng và đưa chìa khóa để nhân viên đưa T1, T lên phòng thực hiện hành vi bán dâm, tiền bán dâm sẽ được nhân viên lấy của T1, T sau. Khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi Dư Khánh H3 đang thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Quang T tại phòng 203 (T đổi ý không muốn mua dâm của Nguyễn Thị Phương C nên chỉ có H3 bán dâm cho T), Dư Đoàn Khánh N1 thực hành vi bán dâm cho Trương Hùng T1 tại phòng 402 thì bị tổ kiểm tra Công an Q kiểm tra hành chính phát hiện. Sau đó tổ kiểm tra đã đưa H3, T, N1, T1 và H về trụ sở Công an phường B, Quận A làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của H phù hợp với biên bản đối chất, nhận dạng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được.
Đối với Dư Khánh H3, Dư Đoàn Khánh N1, Nguyên Quang T3 và Trương Hùng T1 có hành vi mua bán dâm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao Công an phường B, Quận A ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
Đối với chị Đặng Minh T2 quá trình điều tra xác định chị T2 không biết việc H thuê phòng để nhân viên thực hiện hành vi mua bán dâm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T2.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 13-5-2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 25/01/2024 đến ngày 05/3/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/5/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên. Bị cáo khai nhận hành vi môi giới mại dâm cho 02 gái bán dâm tại khách sạn H5 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội chăm sóc mẹ già, còn chưa thành niên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức hình phạt là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Ngọc H không tự bào chữa và không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chăm sóc mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận A, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 1, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc H tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
- Nguyễn Ngọc H đã thực hiện hành vi dẫn dắt 02 nhân viên của cơ sở massage Lucky Spa do bị cáo làm chủ là Du Khánh H4, Dư Đoàn Khánh N1 bán dâm cho Nguyễn Quang T và Trương Hùng T1 tại khách sạn H5 vào ngày 22/01/2024, để thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 đồng.
- Hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc H đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm” thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên”. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2024/HS-ST ngày 13-5-2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
- Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội nên cần có mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo H.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
- Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Ngoài ra, Hội đồng xét xử phúc thẩm còn xem xét bị cáo có trình độ học vấn thấp (01/12), hoàn cảnh gia đình bị cáo là mẹ đơn thân, đang nuôi con chưa thành niên (sinh năm 2008), phụng dưỡng mẹ già ốm đau, bệnh tật để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo H.
- Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên được xem xét là người có nhân thân tốt khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy mặc dù bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp nên xét không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về các vấn đề khác: Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt đối với bị cáo nhưng tại phần “Nhận định của Tòa án”, cấp sơ thẩm không phân tích, đề cập đến việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là chưa phù hợp với quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 (Mẫu số 27-HS và hướng dẫn sử dụng mẫu kèm theo Nghị quyết). Mặc dù, sai sót của cấp sơ thẩm đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm khắc phục nhưng cấp sơ thẩm cũng cần nghiêm khắc, rút kinh nghiệm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ trước đó từ ngày 25/01/2024 đến ngày 05/3/2024.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 ĐiềNghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |
Bản án số 280/2024/HS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về môi giới mại dâm
- Số bản án: 280/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H, bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm về tội Môi giới maị dâm
