Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 280/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 800/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 26 ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1980; ĐKHKTT và trú tại: P, Tòa nhà J khu chung cư cao tầng CT7 tại Khu đô thị M, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1982; ĐKHKTT và trú tại: ĐKHKTT: P12A04, Tòa nhà J khu chung cư cao tầng CT7 tại Khu đô thị M, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn ly hôn, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H trình bày như sau:

Anh và chị Nguyễn Thị Bích N lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 29/12/2008 tại UBND thị trấn C, quận T, TP Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại địa chỉ phường P, quận B, TP Hà Nội đến năm 2016, anh chị chuyển về sinh sống tại chung cư C, khu đô thị M, phường D, quận H, TP Hà Nội.

Anh chị chung sống với nhau được một thời gian thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Do vợ chồng không có sự đồng cảm, chia sẻ với nhau do quan điểm sống không hợp nhau. Chị N nghi ngờ anh không chung thủy nên anh luôn bị chị N kiểm soát mọi mối quan hệ, mọi công việc và cuộc sống hàng ngày của anh. Chị N còn bảo con cắt xé quần áo của anh làm cho anh cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, cuộc sống gia đình căng thẳng. Trong gia đình anh không có bất kỳ quyền hành gì của người chồng, chị N coi thường anh không kiếm ra tiền. Cũng đã nhiều lần anh cố gắng hàn gắn, đã nhiều lần giải thích để cho chị N hiểu nhưng mâu thuẫn vợ chồng anh càng ngày càng trầm trọng. Chị N không tôn trọng gia đình nhà chồng. Có lần chị N còn lên cơ quan của anh gây rối, gọi điện cho lãnh đạo cơ quan, đưa ra những thông tin không đúng ảnh hưởng đến danh dự của anh.

Anh không dám về nhà chăm con vì anh đã bị chị N uy hiếp tinh thần, về nhà thì bị chị N chửi bới lăng mạ, có lần chị N cầm kéo cắt quần áo của anh. Chị O là bạn của anh từ rất lâu, giữa anh và chị O không có quan hệ bất chính. Anh không thường xuyên về nhà nhưng anh vẫn đặt mua cơm cho con anh, vẫn đóng tiền học, mua đồ dùng học tập, đóng tiền điện nước, trong khi đó anh vẫn phải trả tiền lãi cho ngân hàng khoản vay để mua căn hộ chung cư P, Tòa nhà J khu chung cư cao tầng CT7 tại Khu đô thị M, phường D, quận H, thành phố Hà Nội, anh và các con của anh có nhóm điện thoại riêng vẫn liên hệ với nhau.

Vợ chồng anh hiện đang sống ly thân, tình cảm không thể hàn gắn được nữa nên anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 16/02/2012 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 22/3/2010. Các cháu đều khỏe mạnh, hiện đang sống cùng vợ chồng anh. Anh có nguyện vọng muốn nuôi 01 cháu vì ai cũng thương con. Nếu chị N muốn nuôi hai con anh cũng nhất trí. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Tuy nhiên, ngày 08/4/2024 anh H đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung.

- Về án phí: anh tự nguyện chịu toàn bộ án phí.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị Bích N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ngọc H nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn như anh H trình bày là đúng.

Chị N khai mâu thuẫn vợ chồng anh chị xảy ra 2 năm nay, trong cuộc sống anh H không rõ ràng làm chị nghi ngờ anh có quan hệ với người phụ nữ khác, mặc dù anh H đã hứa chấm dứt nhưng sau đó lại tiếp tục. Anh H thường xuyên mượn xe ô tô của chị O (người yêu cũ anh H), có lần chị O lên đơn vị anh H để đón anh H. Anh H đề nghị chị hoà thuận nhưng được 2 ngày chị bắt gặp anh H viết thư cho người con gái khác nên chị không tin tưởng. Dù ghen chồng nhưng chị vẫn tôn trọng gia đình nhà chồng, việc anh H cho rằng chị mâu thuẫn và không tôn trọng gia đình nhà chồng là không đúng. Chị không lên đơn vị anh H gây rối hay gọi điện cho lãnh đạo của anh H để nói xấu anh H mà chính lãnh đạo của anh H đã gọi điện cho chị nói về việc anh H có đi qua đêm và có hỏi chị về việc anh H có về nhà hay không thì chị nói là không. Vì yêu chồng vì muốn gìn giữ hạnh phúc gia đình nên chị mới ghen. Chị thừa nhận có lần vì ghen chị đã xé áo của anh H. Anh H luôn né tránh không cùng chị để giải quyết mâu thuẫn. Anh H rất ít về nhà chăm con kể cả thời gian anh H không có lịch trực đơn vị và không phải làm việc. Chị cũng thừa nhận anh H có chia sẻ cùng chị nuôi con, giúp chị việc nhà và lo kinh tế trong gia đình. Chị không muốn ly hôn nhưng nếu anh H cương quyết ly hôn thì chị cũng đồng ý. Sau đó, tại phiên họp hoà giải ngày 06/3/2024 chị N lại không đồng ý ly hôn. Chị muốn anh H quay về chăm sóc con cùng chị, còn cách thức để đoàn tụ gia đình là tự anh H.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Đặng Hà C, sinh ngày 07/3/2006 và cháu Đặng Gia H1, sinh ngày 07/9/2010. Các cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường. Chị muốn được nuôi hai cháu, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 8.000.000/tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh H rút yêu cầu về chia tài sản chung, nợ chung. Chị N nhất trí và chị không yêu cầu toà án giải quyết về tài sản chung nợ chung.

* Ngân hàng TNHH MTV S không có yêu cầu giải quyết khoản vay tín dụng của anh H, chị N trong vụ án này.

* Theo kết quả xác minh về cuộc sống, tình trạng mâu thuẫn của anh H chị N tại tổ dân phố A, phường D, quận H, thành phố Hà Nội thì được đại diện tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội cho biết: anh H chị N không có phản ánh về mâu thuẫn của anh chị nên tổ dân phố không nắm được.

Tại phiên tòa:

- Anh H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn.

- Chị N không đồng ý ly hôn. Chị muốn đoàn tụ gia đình để nuôi dạy con.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn mặc dù đã có lời khai nhưng không đến tòa án làm việc là chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ tố tụng của mình; Tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật dân sự.

+ Về yêu cầu khởi kiện của anh H: Mâu thuẫn của anh H chị N đã trầm trọng, có thật, không có khả năng hàn gắn nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho anh H được ly hôn đối với chị N. Giao 02 con chung của anh chị cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, buộc anh H cấp dưỡng nuôi con chung 8.000.000 đồng/ tháng. Về tài sản chung, nợ chung anh H đã rút yêu cầu về chia tài sản chung, nợ chung; ngân hàng không yêu cầu giải quyết về khoản nợ của ngân hàng, chị N không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc H khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị Bích N. Chị N hiện đang trú tại tại phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Do đó, căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; quan hệ tranh chấp là tranh chấp “ly hôn”.

Do ngân hàng TNHH MTV S không có yêu cầu giải quyết về khoản vay tín dụng của anh H và chị N trong vụ án này nên không xác định ngân hàng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị Bích N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 21/02/2005 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Trên cơ sở lời khai của anh H, chị N và những tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có phát sinh mâu thuẫn nhưng không có cách nào hóa giải. Mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến vợ chồng anh chị sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có sự cảm thông và chia sẻ với nhau trong một thời gian dài. Anh chị không tạo niềm tin cho nhau trong cuộc sống. Chị N nghi ngờ anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ xác thực cho việc này, anh H thì không thừa nhận. Anh H không tạo cho chị N có niềm tin vào anh. Anh H cho rằng chị N luôn muốn kiểm soát công việc, đi lại, quan hệ bạn bè làm cho anh thấy mệt mỏi. Chị N thừa nhận có ghen với chồng nhưng đây là chị vẫn còn tình cảm với anh H và muốn giữ hạnh phúc gia đình. Toà án cũng đã tạo điều kiện cho anh chị hoà giải nhưng anh chị không có tiếng nói chung, không có biện pháp để hoà giải. Để mâu thuẫn kéo dài, không cải thiện được là lỗi của cả anh H và chị N. Trong các phiên họp hoà giải tại toà chị N trình bày chị không muốn ly hôn nhưng nếu anh H cương quyết ly hôn thì chị cũng đồng ý ly hôn nhưng sau đó chị N lại mong muốn được đoàn tụ gia đình để nuôi dạy con cái. Tại phiên toà chị N không đồng ý ly hôn. Anh H cương quyết xin ly hôn.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh H và chị N là trầm trọng, căng thẳng, bản thân anh chị không có cách giải quyết để cải thiện mâu thuẫn này. Cuộc sống vợ chồng anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chính vì không tin tưởng lẫn nhau, không tạo niềm tin cho nhau nên mâu thuẫn của anh chị ngày càng căng thẳng làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và ảnh hưởng đến các con của anh chị. Quan hệ hôn nhân của anh chị không còn khả năng hàn gắn nữa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H. Cho anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Nguyễn Thị Bích N.

- Về con chung: Anh H, chị N khai anh chị có 02 con chung là cháu Đặng Hà C, sinh ngày 07/3/2006 và cháu Đặng Gia H1, sinh ngày 07/9/2010. Các cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường. Hiện các con chung đang ở với anh chị.

Anh H có nguyện vọng được nuôi 1 con chung. Chị N muốn nuôi 2 con chung thì anh H cũng nhất trí. Cháu Hà C và cháu Gia H1 đều có nguyện vọng muốn anh chị được đoàn tụ nhưng nếu anh chị phải ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với chị N.

Xét thấy, hiện nay các con anh chị đang ở tại căn hộ chung cư của anh chị. Anh H làm bộ đội nên ít có thời gian về chăm sóc các con và để tránh xáo trộn cuộc sống, việc học tập của các cháu nên Hội đồng xét xử giao cháu Đặng Hà C, cháu Đặng Gia H1 cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình hoà giải và tại phiên toà chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 8.000.000 đồng/tháng. Hiện nay, anh N đang công tác tại Sư đoàn BB301 - Trung đoàn bộ binh G Bộ tư lệnh thủ đô xác nhận lương hàng tháng của anh H là 16.687.000 đồng/tháng, hàng tháng anh H vẫn một mình trả nợ cho ngân hàng, đặt cơm đóng tiền ăn bán trú cho các cháu, có tháng đóng tiền các loại phí dịch vụ nhà và tiền điện. Chị N yêu cầu cấp dưỡng 8.000.000 đồng/tháng thì anh cũng nhất trí. Nên anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung 8.000.000 đồng/tháng cho chị N.

- Về tài sản, công nợ chung:

Trong đơn xin ly hôn anh H yêu cầu chia tài sản, nợ chung, ngày 03/11/2023 Toà án đã thụ lý yêu cầu này. Tuy nhiên, ngày 08/4/2024 anh H có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung. Ngân hàng không đề nghị giải quyết khoản vay tín dụng của anh chị trong vụ án này Tại phiên toà chị N đề nghị giải quyết về tài sản chung. Xét thấy, trong quá trình giải quyết hồ sơ vụ án đến trước khi mở phiên toà chị N không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung kể cả sau khi anh H rút yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung Toà án đã ra Thông báo gửi chị N về vấn đề này nhưng chị N cũng không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung (BL88), căn cứ Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự đã hết thời hạn tố tụng để thụ lý yêu cầu của chị N tại phiên toà. Anh H, chị N có quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung ở một vụ án khác khi có yêu cầu và xuất trình được tài liệu chứng cứ. Do đó, Toà án không xem xét về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này.

- Về án phí: Anh H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm, án phí về cấp dưỡng nuôi con chung, được trả lại án phí chia tài sản chung, nợ chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Ngọc H. Anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Nguyễn Thị Bích N.

2. Về con chung: Anh H, chị N có 02 con chung là cháu Đặng Hà C, sinh ngày 07/3/2006 và cháu Đặng Gia H1, sinh ngày 07/9/2010. Giao hai con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi các con chung đủ tuổi trưởng thành hoặc có sự thỏa thuận thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh H phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung 8.000.000 đồng/ tháng cho chị N kể từ tháng 5/2024 cho đến khi các con chung đủ tuổi trưởng thành hoặc có sự thỏa thuận thay đổi khác.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét.

4. Về án phí:

- Anh Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con chung được đối trừ số tiền tạm ứng 18.300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0014565 ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Anh H được trả lại 17.700.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Đương sự;
  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - UBND xã, phường nơi thực hiện ĐKKH;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 280/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 280/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HOÀNG - NGỌC
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger