Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/6/2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thắng; Bà Đỗ Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 201/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1979; CCCD số: [...]; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Người được anh B ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Đoàn Hồng H, sinh năm 1990; Địa chỉ: KDC K, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; CCCD số: [...]; Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 20/4/2001. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau về tính cách, cũng như việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình và chăm sóc con cái. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không có tiếng nói chung. Ông bà nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng nhiều và không hàn gắn được. Năm 2014 ông đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng ít liên lạc nên mâu thuẫn trầm trọng hơn. Từ ngày 03/4/2025 đến ngày 03/5/2025 ông nghỉ phép về về nước làm thủ tục ly hôn bà H1. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Nguyễn Thị H1.

Về con chung: Ông và bà H1 có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 16/3/2002 và Nguyễn Nam H3, sinh ngày 10/4/2005, hiện các con đã đủ 18 tuổi, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần. Do vậy, ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện ông đang lao động tại Đài Loan nên ủy quyền cho anh Đoàn Hồng H thay ông giao, nhận các văn bản, tài liệu tại Tòa án, đồng thời ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người được ông B ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng tại Tòa án anh Đoàn Hồng H trình bày: Anh nhất trí nhận ủy quyền của ông B, sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh đã thông báo cho ông B biết, ông B vẫn giữ nguyên quan điểm trong đơn xin ly hôn và đề nghị được giải quyết vắng mặt.

- Tại biên bản lấy lời khai anh Nguyễn Nam H3 trình bày: Anh là con trai của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H1. Từ năm 2014 ông B đi lao động tại A, sau đó lại đi lao động tại Đài Loan, bà H1 cũng đi Đài Loan cùng ông B đến năm 2017 thì về nước. Ông B vẫn ở lại Đài Loan cho đến nay, thỉnh thoảng về phép 1-2 tháng, mỗi lần về phép anh thấy bố mẹ mình ở riêng và rất ít nói chuyện với nhau, mỗi lần nói chuyện lại xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Tháng 4/2025 ông B về nước, hai ông bà xảy ra mâu thuẫn, bà H1 nghi ngờ ông B không chung thủy, ông B cho rằng vợ chồng không hợp và tiếp tục quay lại Đài Loan làm việc. Việc mâu thuẫn của bố mẹ anh đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương nhiều lần khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay ông B có đơn xin ly hôn, quan điểm của anh việc ly hôn do bố mẹ tự quyết định. Hiện tại bà H1 đi làm công ty thường xuyên không có nhà vào giờ hành chính, chỉ đến tối bà mới ở nhà, anh đã nhận các văn bản do Tòa án giao và cam đoan có trách nhiệm thông báo cho bà H1 biết.

- Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Nguyễn Văn S trình bày: Ông là anh trai của ông Nguyễn Văn B. Về thời gian, điều kiện kết hôn như ông B trình bày là đúng. Sau khi kết hôn ông B, bà H1 chung sống với nhau tại gia đình ông được một thòi gian thì ra ở riêng. Năm 2015 ông B bà H1 cùng đi lao động tại Đài Loan, năm 2017 bà H1, còn ông B vẫn ở Đài Loan cho đến nay, chỉ thỉnh thoảng về phép thăm gia đình. Ông Bản T ít nói nên không chia sẻ với bà H1, vợ chồng sống xa cách từ năm 2017 cho đến nay. Tháng 4/2025 ông B về nghỉ phép, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, việc mâu thuẫn của vợ chồng diễn ra nhiều năm nay, anh em trong gia đình nhiều lần khuyên bảo hòa giải nhưng không có kết quả. Nay ông B có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Nguyễn Hải P trình bày: Ông là bố đẻ bà Nguyễn Thị H1. Thời gian ông B về nghỉ phép có xuống thăm ông và nói chuyện vợ chồng không hợp nên ông B có đơn xin ly hôn. Theo ông nắm bắt được nguyên nhân là do ông B đi nước ngoài thời gian quá dài, vợ chồng mỗi người ở một nơi, ông B không chung thủy với bà H1 nên mới có đơn xin ly hôn. Quan điểm của ông việc ly hôn là do hai người tự quyết định, ông không có liên quan gì.

Theo xác minh tại UBND xã C và cơ sở thôn M: Ông B, bà H1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã C. Có thời gian ông B, bà H1 cùng đi lao động ở nước ngoài, sau đó bà H1 về trước còn ông B hiện vẫn ở nước ngoài, vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi. Tháng 4/2025 ông B về nghỉ phép thăm gia đình, hai người xảy ra mâu thuẫn, ông B về nhà bố mẹ đẻ ở. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng nhau. Gia đình và địa phương nhiều động viên, hòa giải nhưng ông bà vẫn không khắc phục được mâu thuẫn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Văn B ly hôn bà Nguyễn Thị H1. Ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử ( HĐXX) nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B có nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống, lao động tại Đài Loan. Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 có địa chỉ tại thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Mặc dù ông B không có mặt ở Việt Nam nhưng thời gian về nghỉ phép ông đã gửi đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho ông Đoàn Hồng H nộp đơn đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Đơn và các tài liệu của ông đã được UBND xã C xác nhận. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định quan điểm ly hôn của ông là hoàn toàn tự nguyện.
  2. Ông B có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Bà H1 đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

  3. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 20/4/2001 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà sống xa cách trong thời gian dài, dẫn đến vợ chồng không quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Thời gian ông bản về nghỉ phép nhưng cũng không sống cùng bà H1 mà đều ăn ở riêng. Ông bà đã nhiều lần được gia đình, địa phương hòa giải nhưng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn. Tại đơn xin ly hôn ông B xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà H1. Bà H1 đã được Tòa án thông báo về việc ông B có đơn xin ly hôn và triệu tập đến làm nhưng không có mặt, chứng tỏ bà H1 có ý thức bỏ mặc, không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông B và bà H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B.
    2. Về quan hệ con chung: Ông B, bà H1 có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 16/3/2002 và Nguyễn Hải N, sinh ngày 10/4/2005, hiện các con đã đủ 18 tuổi, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông B, bà H1 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, xử cho ông Nguyễn Văn B ly hôn bà Nguyễn Thị H1.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0001797 ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do anh Đoàn Hồng H nộp thay). Ông B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày; bà Nguyễn Thị H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh HD;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh HD;
  • - UBND xã C,, huyện C, tỉnh HD;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Đoàn Thị Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 280/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 280/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B - nguyễn Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger