Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 6 - 2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 263/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Hiện nay đang ở nước Úc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Vũ Thị L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 11 năm 2016, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2023, anh T đi làm việc ở nước ngoài. Bởi vì xa nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hòa giải, thường xuyên cãi nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về con chung: Vợ chồng chị L và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018 và cháu Nguyễn Đình K, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2021. Hiện nay hai cháu đang ở cùng mẹ. Ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Đình T: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt. Chị Vũ Thị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh T đang sinh sống tại nước Úc. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Đình N, bà Nguyễn Thị H (Là bố mẹ đẻ của anh T), trú tại: Xóm L, xã H (N là Đ), huyện Y, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông N, bà H thông báo với anh T để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày ý kiến của ông Nguyễn Đình N, bà Nguyễn Thị H cho biết thời gian ở nước ngoài, anh T liên lạc về với ông, bà bằng ứng dụng facebook, còn địa chỉ cụ thể của anh T thì anh T không cung cấp nên ông, bà không biết. Ông N, bà H đã thông báo cho anh T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị L và anh T. Thông qua ông N, bà H anh T đồng ý ly hôn với chị L và đồng ý giao con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị L ly hôn với anh Nguyễn Đình T. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018 và cháu Nguyễn Đình K, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2021 cho chị Vũ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu nên không xem xét, dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị L hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình T hiện cư trú ở nước ngoài; Trước khi xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại xóm L, xã H (N là xã Đ), tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu ông Nguyễn Đình N, bà Nguyễn Thị H (Là bố mẹ đẻ của anh T) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh T biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, ông N, bà H không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh T liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh T trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Vũ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 11 năm 2016, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2023, anh T đi làm việc ở nước ngoài. Vì xa nhau nên dẫn đến nhiều mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hòa giải, thường xuyên cãi nhau. Xét thấy, chị L và anh T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

[2.2] Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Đình T có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018 và cháu Nguyễn Đình K, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2021, hiện nay hai cháu đang sống cùng chị L. Ly hôn, chị L có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của chị L là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế, vì hiện nay, anh Nguyễn Đình T đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018 và cháu Nguyễn Đình K, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2021 cho đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho chị L khi có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Đình T.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018 và cháu Nguyễn Đình K, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2021 cho chị Vũ Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    • Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
    • Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Đình T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
    • Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007625 ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  3. Chị Vũ Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Đình T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Hợp Thành, h. Yên Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 280/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 280/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger