|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 280/2024/HS-ST Ngày: 27 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Bà Nguyễn Thị Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 248/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Huỳnh Hữu N, sinh năm: 1978, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số F ấp B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 2 đường T, Ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hữu P (đã chết) và bà Bùi Thị M; có vợ tên Nguyễn Ngọc Phương C, sinh năm 1983 và 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Phương T, sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày: 20/3/2024; (Có mặt).
- Nguyễn Thành L, sinh năm: 1988, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số C ấp B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Lê Thị B; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày: 21/3/2024; (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Quang V, sinh năm 1977; địa chỉ: 1 B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 19/3/2024, Tổ công tác Công an P1, quận G tuần tra đến trước địa chỉ số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Huỳnh Hữu N điều khiển xe mô tô biển số 54Y9 - 6480 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của N đang cầm 07 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chứa bột màu trắng (N khai là ma tuý) nên Tổ công tác đã tiến hành thu giữ niêm phong vật chứng đưa về Công an Phường 13, quận G lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Huỳnh Hữu N khai nhận đã 02 lần mua ma túy từ Nguyễn Thành L để bán cho đối tượng nghiện được cho tiền, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 17/3/2024, có một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) hỏi N mua 02 tép ma tuý (loại heroine) và giao đến khu vực đường L, Phường A, quận G sẽ được người đàn ông này cho tiền công là 50.000 đồng thì N đồng ý. Sau đó N sử dụng số điện thoại 0909.562.xxx gọi vào số điện thoại 0902.035.xxx của Nguyễn Thành L để L đi mua ma tuý về đưa N đi bán lại rồi đưa tiền sau thì L đồng ý và thoả thuận giao ma tuý tại trước nhà L ở địa chỉ số C B, xã B, huyện H. Đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 54Y9 – 6480 đến chỗ giao hẹn trên theo sự chỉ dẫn của L để lấy ma túy. Sau khi nhận được ma túy N chạy đến chỗ người đàn ông đã hẹn để giao ma túy và nhận 350.000 đồng. N trả cho L 300.000 đồng và được hưởng 50.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 07 giờ ngày 19/03/2024, cũng người đàn ông mua ma túy ngày 17/3/2024 gọi cho N để mua 09 tép ma túy và sẽ trả tiền công cho N 50.000 đồng thì N đồng ý. N gọi điện thoại cho L nói có người muốn hỏi mua 09 tép ma tuý thì L báo giá 150.000 đồng/tép, trong đó mỗi tép ma tuý có giá là 100.000 đồng và tiền công L đi mua dùm là 50.000 đồng/tép. Sau đó, N gọi cho người đàn ông mua ma tuý để thông báo giá là 150.000 đồng/tép và tiền công đi mua của N là 50.000 đồng thì người đàn ông này đồng ý mua. Theo sự chỉ dẫn của L thì N đã nhận được gói ma túy và đem đi giao cho người mua, khi N đi đến trước địa chỉ số A đường L, Phường A, quận G thì bị Tổ công tác Công an phường P1, quận G kiểm tra và phát hiện trong tay N đang giữ 07 tép có chứa ma tuý bị lập biên bản phạm tội quả tang như đã nêu trên.
Qua truy xét Công an đã triệu tập được Nguyễn Thành L đến làm việc, L khai nhận sau khi đồng ý bán ma túy cho người đàn ông mà N giới thiệu nên đã liên hệ với 01 năm thanh niên (không rõ lai lịch) tại khu vực ao cá Koi, xã X, huyện H để mua 02 tép ma túy vào ngày 17/3/2024 với số tiền 200.000 đồng bán lại cho N 300.000 đồng, L đã được hưởng lợi 100.000 đồng và ngày 19/3/2024 mua 10 tép ma túy với số tiền 1.000.000 đồng để bán lại cho N 150.000 đồng/tép. Ngày 19/3/2024, sau khi mua được, L mang 09 tép ma túy đưa cho N đem đi bán nhưng chưa lấy tiền, còn 01 tép Luân cất giữ để sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng thì bị Công an khám xét thu giữ tại nhà của L.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 3741/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an T2 kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, không tìm thấy H (Gói ma túy thu tại nhà L).
Căn cứ Bản kết luận giám định số 3750/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an T2 kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2118 gam (không phẩy hai một một tám gam), loại Heroine (Gói ma túy thu của N).
Tại Cơ quan điều tra Huỳnh Hữu N, Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong được ghi là “1117/24-Gò Vấp KL: 3750".
- 01 gói niêm phong được ghi là “1118/24-Gò Vấp KL: 3741".
- Hộp giấy đã qua sử dụng, bị mục nát, có mùi hôi, không còn giá trị sử dụng.
Thu giữ của L:
01 điện thoại di động loại bàn phím, hiệu FORME, đã qua sử dụng, IMEI 1: 3550.0509.2351147, IMEI 2: 3550.0509.2351154, gắn sim 0902.035.919.
Thu giữ của N:
- 01 điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu SAMSUNG, đã qua sử dụng, IMEI 1: 35847.57718.32344/01, IMEI 2: 35911.18918.32349/01, gắn sim: 0909.562.440.
- 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 54Y9-6480, số máy: HC12E0625653, số khung: RLHHC12219Y019749; 01 Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 032241, biển số 54Y9-6480, số khung: 2219Y-019749, Số máy: C12E-0625653, tên chủ xe: Đinh Quang V. Qua xác minh chiếc xe trên do ông Đinh Quang V1 đứng tên chủ sở hữu. Ông V1 cho biết đã bán cho tiệm cầm đồ (không rõ địa chỉ) cách đây khoảng 10 năm, có giao giấy tờ xe nên không có yêu cầu thắc mắc gì đối với chiếc xe. Huỳnh Hữu N khai nhận chiếc xe trên N mua cách đây 05 năm (không rõ mua từ ai), không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai đến liên hệ.
Cơ quan điều tra đã nhập kho số vật chứng nêu trên theo Phiếu nhập số 181/PNK ngày 02/8/2024.
Tại bản cáo trạng số 271/CT-VKS-GV, ngày 05/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Huỳnh Hữu N, Nguyễn Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu Nhân T1 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong được ghi là “1117/24-Gò Vấp KL: 3750"; 01 gói niêm phong được ghi là “1118/24-Gò Vấp KL: 3741"; hộp giấy đã qua sử dụng, bị mục nát, có mùi hôi, không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động loại bàn phím, hiệu FORME, đã qua sử dụng, IMEI 1: 3550.0509.2351147, IMEI 2: 3550.0509.2351154, gắn sim 0902.035.919; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu SAMSUNG, đã qua sử dụng, IMEI 1: 35847.57718.32344/01, IMEI 2: 35911.18918.32349/01, gắn sim: 0909.562.440; 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 54Y9-6480, số máy: HC12E0625653, số khung: RLHHC12219Y019749; 01 Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 032241, biển số 54Y9-6480, số khung: 2219Y-019749, Số máy: C12E-0625653.
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng xã hội để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phiên tòa: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày lời khai, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về tội danh:
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai các bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Trong các ngày 17/3/2024 và 19/3/2024, các bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi ở khu vực đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên đây là tình tiết định khung “Phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 271/CT-VKS-GV, ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho các bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung:
quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt bổ sung.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
không có.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói niêm phong được ghi là “1117/24-Gò Vấp KL: 3750"; 01 gói niêm phong được ghi là “1118/24-Gò Vấp KL: 3741", qua giám định là ma túy loại Heroine, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 gói niêm phong được ghi là “1117/24-Gò Vấp KL: 3750"; 01 gói niêm phong được ghi là “1118/24-Gò Vấp KL: 3741"; hộp giấy đã qua sử dụng, bị mục nát, có mùi hôi, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động loại bàn phím, hiệu FORME, đã qua sử dụng, IMEI 1: 3550.0509.2351147, IMEI 2: 3550.0509.2351154, gắn sim 0902.035.919; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu SAMSUNG, đã qua sử dụng, IMEI 1: 35847.57718.32344/01, IMEI 2: 35911.18918.32349/01, gắn sim: 0909.562.440, các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 54Y9-6480, số máy: HC12E0625653, số khung: RLHHC12219Y019749; 01 Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 032241, biển số 54Y9-6480, số khung: 2219Y-019749, Số máy: C12E-0625653; xét thấy xe không có nguồn gốc mua bán rõ rang, bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 tháng, nếu quá thời hạn này mà không ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là: Bị cáo N số tiền 100.000 đồng và bị cáo L 100.000 đồng.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với các đối tượng mua, bán ma tuý với các bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G tiếp tục xác minh, điều tra, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
về tội danh đối với các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hữu N, Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/3/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/3/2024.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong được ghi là “1117/24-Gò Vấp KL: 3750"; 01 gói niêm phong được ghi là “1118/24-Gò Vấp KL: 3741"; hộp giấy đã qua sử dụng, bị mục nát, có mùi hôi, không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động loại bàn phím, hiệu FORME, đã qua sử dụng, IMEI 1: 3550.0509.2351147, IMEI 2: 3550.0509.2351154, gắn sim 0902.035.919; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu SAMSUNG, đã qua sử dụng, IMEI 1: 35847.57718.32344/01, IMEI 2: 35911.18918.32349/01, gắn sim: 0909.562.440.
- Giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 54Y9-6480, số máy: HC12E0625653, số khung: RLHHC12219Y019749; 01 Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 032241, biển số 54Y9-6480, số khung: 2219Y-019749, số máy: C12E-0625653 trong thời hạn 06 tháng, nếu quá thời hạn này mà không ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước. (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 181/PNK ngày 02/8/2024 của Công an quận G).
Buộc bị cáo Huỳnh Hữu N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là: 100.000 đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là: 100.000 đồng.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 280/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 280/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hữu N, Nguyễn Thành L về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
