|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 280/2024/DS-ST
Ngày: 04/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 8 và ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2024/DS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2024/QĐXXST- DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 323/2024/QĐST-DS ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T; địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, Số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 28/2/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Hoàng A, sinh năm 1994; địa chỉ: Số E đường T, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Kim N, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1967; cùng địa chỉ: Số E đường T, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1987; địa chỉ: Số F, Khu phố B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Thái Khoa N2, sinh năm 1994; Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 12 năm 2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và người đại diện hợp pháp của là nguyên đơn là anh Nguyễn Đình T trình bày:
Ngày 14/5/2021, Ngân hàng TMCP Q (V) với ông Nguyễn Ngọc Hoàng A ký hợp đồng tín dụng (HĐTD) số 6390202.21 để cho ông A vay số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), thời hạn vay 180 tháng, mục đích vay: sửa chữa nhà ở; lãi suất ưu đãi tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, áp dụng trong thời hạn 12 tháng, hết 12 tháng, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.9%/năm. Ngày 18/5/2021, V đã giải ngân cho ông Nguyễn Ngọc H A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1556967.21 với số tiền 1.500.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
Ngày 08/10/2021, hai bên ký tiếp Hợp đồng tín dụng số 9301980.21 để vay số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng), thời hạn vay 96 tháng, mục đích vay: mua sắm trang thiết bị gia đình; lãi suất ưu đãi tại thời điểm giải ngân là 12,7%/năm, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.3%/năm. Ngày 12/10/2021, V đã giải ngân cho ông Nguyễn Ngọc H A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1427970.21 với số tiền 700.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
Tiếp tục ngày 27/6/2022, hai bên ký Hợp đồng tín dụng số 4193034.22 để vay số tiền 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay: 360 tháng, mục đích vay: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; lãi suất ưu đãi tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, áp dụng trong thời hạn 12 tháng, hết 12 tháng, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.7%/năm. Ngày 29 và 30/6/2022, V đã giải ngân cho ông Nguyễn Ngọc H A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7828867.22 với số tiền 5.450.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
Căn cứ Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 14/5/2021, VIB đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A với S thẻ: 5138920000681273; Loại thẻ: V; Hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên giữa ông Nguyễn Ngọc Hoàng A, ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1 đã ký các Hợp đồng, cụ thể:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8070045.21.620 thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1327, tờ bản đồ số: 10TDH.11, địa chỉ: khu phố Đ, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BE 753240, số vào số cấp GCN: CH 03391 do UBND thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/5/2011 đứng tên ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1. Hợp đồng được Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 17/5/2021, số công chứng số 008017, quyển số: 26/2021 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3815491.22.647, ngày 20/7/2022 để thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 251, tờ bản đồ số: 41, địa chỉ: xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 654966, số vào số cấp GCN: CS 04706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/7/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/7/2022 cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A. Tài sản này được thế chấp tại V theo Hợp đồng được Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 20/7/2022, số công chứng: 014438, quyển số: 06/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Ngọc Hoàng A mới thanh toán được cho VIB số tiền tổng cộng là 1.207.677.341 đồng (trong đó: nợ gốc 436.613.985 đồng, nợ lãi 771.063.356 đồng), đến ngày 29/12/2022, ông A không thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc và lãi theo như thỏa thuận trong hợp đồng, do đó, ông A đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 30/12/2022 và là nợ xấu theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N3.
Vì vậy, Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Ngọc H A phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 04/9/2024 tổng cộng 9.544.812.613 đồng, trong đó tiền nợ gốc là: 7.398.974.007đồng; tiền lãi 2.145.838.606 đồng.
Trường hợp ông Nguyễn Ngọc Hoàng A không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì V được đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1327, tờ bản đồ số: 10TDH.11, địa chỉ: khu phố Đ, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BE 753240, số vào số cấp GCN: CH 03391 do UBND thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/5/2011 đứng tên ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1.
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 251, tờ bản đồ số: 41, địa chỉ: xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 654966, số vào số cấp GCN: CS 04706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/7/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/7/2022 cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A.
Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc Hoàng A vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Q.
Theo bản tự khai ngày 14/3/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Ngọc Hoàng A trình bày:
Thống nhất với lời khai của nguyên đơn về thời gian ký các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, thời gian giải ngân và số tiền đã thanh toán.
Tuy nhiên, khoản tiền vay 5.450.000.000 đồng vay theo Hợp đồng tín dụng số 4193034.22 ngày 27/6/2022 là ông đứng ra vay dùm cho ông Nguyễn Hồng L. Việc thỏa thuận đứng tên vay dùm không được lập thành văn bản mà chỉ nói miệng và có người làm chứng là anh Nguyễn Thái Khoa N2 (làm việc tại V1), anh T1 (nhân viên của V - Chi nhánh G – Phòng G1). Do là đứng tên vay dùm và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ là giả tạo để hợp pháp cho việc ông đứng tên vay nên ông không biết đất ở đâu và cũng không biết giá trị tài sản khi Ngân hàng thẩm định giá là bao nhiêu đề làm căn cứ cho vay.
Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V ông có ý kiến như sau:
Đối với khoản vay 1.500.000.000 đồng và 700.000.000 đồng, ông đồng ý thanh toán cho Ngân hàng; bố mẹ ông là ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1 đồng ý tự bán nhà để trả khoản vay này cho ông.
Về khoản vay 5.450.000.000 đồng, ông chỉ là người đứng ra vay dùm cho ông L nên ông L phải có trách nhiệm thanh toán khoản vay này cho Ngân hàng, ông không đồng ý thanh toán khoản vay này.
Đối với khoản nợ thẻ tín dụng ông A đồng ý thanh toán.
Tại phiên tòa ông thừa nhận toàn bộ chữ ký, chữ viết trong các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ và bản Thỏa thuận giá trị tài sản bảo đảm ký ngày 27/6/2022 là chữ ký của ông.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 3 năm 2024 và quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1 có ý kiến như sau:
Ông, bà là bố, mẹ của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Hoàng A. Ông, bà thống nhất với lời khai của ông Hoàng A về việc ông A và Ngân hàng V ký hợp đồng tín dụng số 6390202.21 để vay số tiền 1.500.000.000 đồng, Hợp đồng tín dụng số 9301980.21 để vay số tiền 700.000.000 đồng và Hợp đồng thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1327, tờ bản đồ số: 10TDH.11, địa chỉ: khu phố Đ, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BE 753240, số vào số cấp GCN: CH 03391 do UBND thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/5/2011 cho ông, bà.
Đối với Hợp đồng tín dụng số 4193034.22 ký giữa ông A với Ngân hàng V để vay số tiền 5.450.000.000 đồng và việc ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3815491.22.647, ngày 20/7/2022 để thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 251, tờ bản đồ số: 41, địa chỉ: xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 654966, số vào số cấp GCN: CS 04706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/7/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/7/2022 cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A, ông bà không biết. Chỉ đến khi Ngân hàng báo số tiền ông A nợ Ngân hàng thì ông, bà mới biết sự việc vay số tiền 5.450.000.000đồng.
Ông, bà xác định ông, bà không liên quan đến khoản tiền vay này và tài sản ông bà thế chấp Ngân hàng chỉ để đảm bảo cho khoản vay số tiền 1.500.000.000 đồng và 700.000.000 đồng, ông bà sẽ bán tài sản để thanh toán cho Ngân hàng số tiền này, còn đối với khoản ông A đứng ra vay dùm cho ông L ông, bà không biết và không có bất kỳ giấy tờ nào cam kết về việc dùng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng L: Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Hồng L để tham gia phiên tòa vào ngày 13 và 29 tháng 8 năm 2024 nhưng ông L vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng không yêu cầu triệu tập thêm người vào tham gia tố tụng.
Theo biên bản xem xét thẩm định ngày 03/4/2024, tài sản thế chấp gồm:
- + Quyền sử dụng của thửa đất số 1327, tờ bản đồ số: 10TDH.11 và tài sản trên đất: 01 căn nhà ở riêng lẻ (1 trệt 2 lầu) có kết cấu: nền gạch men; cột, sàn, mái: bê tông cốt thép, tường gạch xây tô sơn nước, bên trong có ốp gạch men lửng, cầu thang ốp đá hoa cương, lan can kính, tay vịn gỗ, cửa pano sắt + kính; trước hiên nhà có đổ si nô; sân nền gạch men, mái che di động; bên hiên nhà có trừ hành lang: nền gạch men, vỉ kèo sắt hộp, mái che tôn; cổng sắt + trụ cổng bê tông cốt thép.
Theo biên bản xem xét thẩm định ngày 10/5/2024, tài sản thế chấp gồm:
- + Quyền sử dụng của thửa đất số: 251, tờ bản đồ số: 41, trên đất có trồng khoai mì nhưng các đương sự không xác định được ai trồng.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N, bà N1 đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L đã được triệp tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Ngọc Hoàng A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Hồng L đã được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 13 và 29/8/2024 nhưng vắng mặt không có lý do, người làm chứng ông Nguyễn Thái Khoa N2 có đơn yêu cầu giải quyết văng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 và 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.
[2] Về nội dung: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông A thừa nhận toàn bộ chữ ký, chữ viết trong các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ và chữ ký trong Tờ thỏa thuận giá trị tài sản bảo đảm lập ngày 27/6/2022 là chữ ký chữ viết của ông A, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất trình bày vào các ngày 14/5/2021, 08/10/2021 và ngày 27/6/2022, Ngân hàng TMCP Q (V) với ông Nguyễn Ngọc Hoàng A ký các Hợp đồng tín dụng (HĐTD) số 6390202.21, số 9301980.21 và số 4193034.22 để thỏa thuận Ngân hàng V cho ông A vay số tiền lần lượt là 1.500.000.000 đồng, 700.000.000 đồng và 5.450.000.000 đồng. Thực hiện Hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên theo các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1556967.21 ngày 18/5/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1427970.21 ngày 12/10/2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7828867.22 ngày 29, 30/6/2022. Căn cứ Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 14/5/2021, V đồng ý cấp thẻ tín dụng V với số thẻ 5138920000681273 cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A với hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận về thời hạn vay, lãi suất vay, phí, lãi thẻ tín dụng. Để đảm bảo cho khoản vay đối với Hợp đồng tín dụng số 6390202.21, số 9301980.21 ngày 14/5/2021 và 08/10/2021, ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8070045.21.620 với Ngân hàng V, hợp đồng được công chứng ngày 17/5/2021. Để đảm bảo cho khoản vay đối với Hợp đồng tín dụng số 4193034.22 ngày 27/6/2022, ông Nguyễn Ngọc Hoàng A ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3815491.22.647 với Ngân hàng V. Ngoài ra các bên còn thỏa thuận về thời gian vay, lãi suất vay, phương thức thanh toán và các điều khoản khác. Xét, việc ký kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp thể hiện sự tự nguyện của các đương sự trong giao kết hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A vay số tiền tổng cộng là 7.650.000.000đồng, nhưng ông A mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 1.207.677.341 đồng (trong đó: nợ gốc 436.613.985 đồng, nợ lãi 771.063.356 đồng). Từ ngày 30/12/2022 đến nay ông A không thanh toán thêm cho Ngân hàng bất cứ số tiền nào khác mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Như vậy, ông A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông A thanh toán tiền vay là có căn cứ.
[4] Ông A cho rằng khoản vay của hợp đồng tín dụng số 4193034.22 ký ngày 27/6/2022 ông chỉ là người đứng tên vay dùm cho ông Nguyễn Hồng L nên ông không đồng ý thanh toán cho Ngân hàng, ông chỉ đồng ý thanh toán khoản vay 1.500.000.000₫, 700.000.000đ và tiền vay của thẻ tín dụng. Xét, việc ký hợp đồng tín dụng số 4193034.22 ngày 27/6/2022 với Ngân hàng V để vay số tiền 5.450.000.000đồng với mục đích thanh toán tiền mua bất động sản của ông A là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai lừa dối ép buộc. Quá trình tố tụng bị đơn trình bày Ngân hàng V biết việc ký hợp đồng tín dụng vay số tiền 5.450.000.000₫ là bị đơn vay dùm cho ông L thông qua việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đại diện Ngân hàng không thừa nhận việc này và ông A cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc Ngân hàng V biết việc ông A là người đứng tên vay dùm cho ông L. Trường hợp giữa ông A với ông L có tranh chấp về số tiền đứng tên vay dùm 5.450.000.000đồng như lời ông A trình bày trong quá trình tố tụng thì ông A có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
[5] Từ các phân tích trên, theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng Ngân hàng yêu cầu ông A phải thanh toán toàn bộ khoản nợ của các hợp đồng tín dụng đã ký, tính đến ngày 26/8/2024 là 9.503.701.556 đồng, trong đó tiền gốc của các HĐTD là 7.213.386.015 đồng, tiền lãi là 1.948.667.768 đồng; tiền nợ gốc thẻ tín dụng là 185.587.992 đông, tiền lãi và tiền phí thẻ tín dụng 156.059.781đồng, là có cơ sở chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng: Tại Điều 9 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8070045.21.620 ký giữa Ngân hàng V với ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị Thanh N1, được công chứng ngày 17/5/2021 tại Văn phòng C có thỏa thuận về các Sự kiện vi phạm, Xử lý sự kiện vi phạm và Xử lý tài sản thế chấp, mục 9.1.1 quy định “Bên C không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán...” và tại tiểu mục 9.3.1.6 quy định “Bên A xử lý bằng các phương thức khác theo quy định của pháp luật”. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3815491.22.647 ký giữa Ngân hàng V với ông Nguyễn Ngọc Hoàng A, được công chứng ngày 20/7/2022 tại Văn phòng C cũng thỏa thuận về các các Sự kiện vi phạm, Xử lý sự kiện vi phạm và Xử lý tài sản thế chấp, mục 9.1.1 quy định “Bên B không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán...” và tại tiểu mục 9.3.1.7 quy định “Bên A xử lý bằng các phương thức khác theo quy định của pháp luật”. Theo sự thỏa thuận này thì ông A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay của các Hợp đồng tín dụng nên sự kiện vi phạm trong Hợp đồng thế chấp đã xảy ra và V khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết: trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc Hoàng A không thanh toán tiền vay thì Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q được quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1327, tờ bản đồ số: 10TDH.11, địa chỉ: khu phố Đ, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BE 753240, số vào số cấp GCN: CH 03391 do UBND thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/5/2011 đứng tên ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1 và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 251, tờ bản đồ số: 41, địa chỉ: xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 654966, số vào số cấp GCN: CS 04706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/7/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/7/2022 cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A là có căn cứ chấp nhận.
[7] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông A và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông N, bà N1 cho rằng ông, bà chỉ thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 6390202.21 ký ngày 14/5/2021 với số tiền vay 1.500.000.000 đồng và Hợp đồng tín dụng số 9301980.21 ngày 08/10/2021 với số tiền vay 700.000.000 đồng, đối với số tiền vay 5.450.000.000₫ của HĐTD số 4193034.22 ký ngày 27/6/2022 ông bà không biết cũng không có bất kỳ cam kết nào sẽ đảm bảo cho khoản vay này nên không đồng ý liên đới trách nhiệm thanh toán cho khoản vay 5.450.000.000₫ của HĐTD số 4193034.22 ký ngày 27/6/2022. Xét, tại khoản 2.1 Điều 2 trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8070045.21.620 ký giữa Ngân hàng V với ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị Thanh N1, được công chứng ngày 17/5/2021 tại Văn phòng C các bên có thỏa thuận “Toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Ngọc Hoàng A, CMND số [...], cấp ngày 21/01/2014, Nơi cấp: C1, Địa chỉ thường trú: 56/13 đường T, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (sau đây được gọi là “Bên C”), hiện tại cũng như trong tương lai, đã phát sinh hoặc có thể phát sinh, riêng rẽ hoặc liên đới với bất kỳ người nào khác, cho Bên A bao gồm nhưng không giới hạn bởi khoản nợ gốc, lãi, phí, tiền phạt và các khoản phải trả khác theo Hợp đồng tín dụng số 6390202.21 ký ngày 14/5/2021 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi và các H1 đồng/ thỏa thuận cấp tín dụng khác bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi ký giữa bên A và bên C trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2021 đến ngày 14/5/2026 (sau đây gọi là “Hợp đồng tín dụng”). Theo thỏa thuận này thì toàn bộ các khoản vay của ông Nguyễn Ngọc Hoàng A phát sinh trong thời gian từ ngày 14/5/2021 đến ngày 14/5/2026 (kể cả trong trường hợp ông A có khoản vay chung với người khác..), thì đều được đảm bảo bằng tài sản là quyền sử dụng đất của ông N, bà N1. Thỏa thuận này của các bên cũng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật dân sự “1. Một tài sản có thể được dùng để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ, ...”. Do đó, lời trình bày của ông A, bà N1, ông N về việc không đồng ý liên đới trách nhiệm thanh toán cho khoản vay 5.450.000.000₫ của HĐTD số 4193034.22 ký ngày 27/6/2022 trong trường hợp phát mãi tài sản quyền sử dụng đất do ông bà đứng tên để trả nợ cho ông A là không có cơ sở xem xét.
[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[9] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Ngọc Hoàng A phải chịu 3.000.000đ. Ngân hàng TMCP Q đã tạm ứng số tiền này nên buộc ông Nguyễn Ngọc H A phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Q.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Ngọc Hoàng A phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 144, 147, 227, 228, 229, 235, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 296, 298, 299, 335, 336, 342 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc Hoàng A thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ của các HĐTD tính đến ngày 04/9/2024 là 9.544.812.613 đồng (chín tỷ, năm trăm bốn mươi bốn triệu, tám trăm mười hai nghìn sáu trăm mười ba đồng), trong đó:
- - Tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng số 6390202.21 ngày 14/5/2024 là: 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng), tiền lãi là 273.255.052đ (hai trăm bảy mươi ba triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm năm mươi hai đồng).
- - Tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng số 9301980.21 ngày 08/10/2021 là 539.576.000₫ (năm trăm ba mươi chín triệu, năm trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), tiền lãi là 121.585.405đ (một trăm hai mươi mốt triệu, năm trăm tám mươi lăm nghìn, bốn trăm linh năm đồng);
- - Tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng số 4193034.22 ngày 27/6/2022 là 5.373.810.015₫ (năm tỷ, ba trăm bảy mươi ba triệu, tám trăm mười nghìn, không trăm mười lăm đồng), tiền lãi là 1.594.938.368đ (một tỷ, năm trăm chín mươi bốn triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm sáu mươi tám đồng);
- - Tiền nợ gốc thẻ tín dụng là 185.587.992đ (một trăm tám mươi lăm triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn, chín trăm chín mươi hai đồng), tiền lãi và phí thẻ là 156.059.781₫ (một trăm năm mươi sáu triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Tiền lãi đối với các Hợp đồng tín dụng số 6390202.21 ký ngày 14/5/2021; Hợp đồng tín dụng số 9301980.21 ký ngày 08/10/2021; HĐTD số 4193034.22 ký ngày 27/6/2022 và tiền lãi, phí của thẻ tín dụng được tiếp tục tính kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi ông Nguyễn Ngọc H An trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất, phí thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và Giấy Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 14/5/2021.
- Sau khi Ngân hàng TMCP Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Ngọc Hoàng A không thanh toán khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản mà ông Nguyễn Ngọc Hoàng A đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3815491.22.647 ngày 20/7/2022 là: diện tích đất 1.102,9m², thuộc thửa đất số: 251, tờ bản đồ số: 41, địa chỉ: xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 654966, số vào số cấp GCN: CS 04706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/7/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/7/2022 cho ông Nguyễn Ngọc Hoàng A;
Và phát mãi tài sản mà ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị Thanh N1 đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8070045.21.620 ngày 17/5/2021, bao gồm: diện tích đất 106.6m², thuộc thửa đất số 1327, tờ bản đồ 10TDH.11, địa chỉ: khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH03391 do UBND thị xã D (nay là thành phố D) cấp cho ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh N1 ngày 30/5/2011, cùng tài sản trên đất là 01 căn nhà ở riêng lẻ (1 trệt 2 lầu) có kết cấu: nền gạch men; cột, sàn, mái: bê tông cốt thép, tường gạch xây tô sơn nước, bên trong có ốp gạch men lửng, cầu thang ốp đá hoa cương, lan can kính, tay vịn gỗ, cửa pano sắt + kính; trước hiên nhà có đổ si nô; sân nền gạch men, mái che di động; bên hiên nhà có trừ hành lang: nền gạch men, vỉ kèo sắt hộp, mái che tôn; cổng sắt + trụ cổng bê tông cốt thép.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Nguyễn Ngọc H A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Ngọc Hoàng A phải chịu số tiền 117.544.813đ (một trăm mười bảy triệu, năm trăm bốn mươi bốn nghìn, tám trăm mười ba đồng)
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.142.179đ (năm mươi tám triệu một trăm bốn mươi hai nghìn một trăm bảy mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền số 0001551 ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc Hoàng A trả lại Ngân hàng TMCP Q số tiền 3.000.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Kim Hoa |
Bản án số 280/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 280/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Hoàng A
