Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIÊN LƯƠNG

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HSST

Ngày: 30 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phù Thọ Bổn
  2. Bà Lê Thị Bé Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Thúy Duy- Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Sơn C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại huyện K, tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ H, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: Tổ B, khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Sơn H (chết) và bà Hồ Thị Bé S; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Quang Minh C1, sinh ngày 15/4/1993; địa chỉ: Tổ B, khu phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
  2. Bà Hồ Thị T, sinh ngày 01/01/1986; địa chỉ: ấp C, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 30/4/2024 Trương Sơn C tìm đối tượng tên G (không rõ nhân thân) hỏi mua 700.000 đồng ma túy. Giàu kêu C đi đến khu vực Trường mầm non H2 thuộc tổ B, khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang để giao ma túy. Khoảng 05 phút sau, G đưa cho C 01 bịch ma túy và 03 bình thủy tinh (còn gọi là nỏ, dụng cụ dùng để sử dụng ma túy). Sau đó C đi bộ đến phòng trọ của Phạm Hoàng K và Hồ Thị T ở tổ H, khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang nhưng không có K và T ở phòng trọ; thấy cửa phòng không khóa, C đem 03 cây nỏ để vào phòng trọ và bỏ đi uống bia một mình. Đến khoảng 22 giờ ngày 30/4/2024, C quay lại phòng trọ của K và T. Lúc này K và T vẫn chưa về. C đi vào phòng chia ma túy ra làm 04 bịch nhỏ và lấy 01 bịch ra để vào nỏ sử dụng một mình, còn lại 03 bịch Cảnh giấu vào thùng nhựa màu trắng hiệu Kova. Đến 01 giờ ngày 01/5/2024 K và T đi về phòng trọ, cả hai cự cãi nhau K bỏ đi ngủ, còn T nói chuyện với C. Trong lúc này, C dùng điện thoại Oppo A15 màu xanh của C nhắn tin qua Zalo cho Quang M Chúc rủ đến phòng trọ của T để chơi ma túy nhưng không nói cho T biết. Do C1 không có xe nên C đã nhờ T đi rước Chúc dùm. Trong thời gian T đi rước C1, C đã bày sẵn ma túy. Khi T rước C1 về đến phòng trọ, cả hai đã cùng với C sử dụng trái phép chất ma túy, mỗi người sử dụng 02 đến 03 lần. Đến 02 giờ ngày 01/5/2024 cả ba đã bị Công an thị trấn K bắt quả tang và thu giữ tang vật tại hiện trường. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. (Bút lục số: 14, 15, 16, 29, 53, 55, 57, 59, 62, 64, 66, 73, 80, 82, 90, 91, 92, 107).

Về vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ gồm (bút lục số: 14, 15, 16, 45, 46):

  1. 03 (ba) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy đã niêm phong gửi giám định.
  2. 01 (một) thùng nhựa, nhãn hiệu KOVA, màu trắng, đã qua sử dụng.
  3. 03 (ba) bình thủy tinh, trên đầu 02 bình có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tỉnh; 01 bình thủy tinh trên đầu có gắn 01 ống nhựa (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy), đã qua sử dụng.
  4. 01 (một) bật lửa màu vàng, ghi thông tin TANAKA, đã qua sử dụng.
  5. 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài màu đỏ, đã qua sử dụng.
  6. 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng.
  7. 01 (một) điện thoại di động OPPO A15 màu xanh, IMEI: 861711050359496; IMEI 2: 861711050359488, bên ngoài bị vỡ kính, đã qua sử dụng (của Trương Sơn C).
  8. 01 (một) điện thoại di động VIVO Y02A, màu xanh, IMEI: 868810064864666; IMEI 2: 868810064864674, đã qua sử dụng (của Quang Minh C1).

Tại bản kết luận giám định số 409/KL-KTHS ngày 6/5/2024 của phòng K1 Công an tỉnh K đã kết luận “Nhiều hạt tinh thể, không đồng nhất chứa trong 03 (ba) bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4888 gam".

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKSKL ngày 11/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương đã truy tố bị cáo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Hai người bị bị cáo C rủ rê sử dụng trái phép chất ma túy là Quang Minh C1 và Hồ Thị T đã bị Công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng số tiền 1.500.000đ theo quy định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

* Đối với người tên G khoảng 34 tuổi, màu da ngâm đen, tóc quần đen, cao khoảng 1m60, nói giọng miền N là người đã bán ma túy cho bị cáo Trương Sơn C. Qua xác minh không có người nào có đặc điểm nhận dạng như trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) điện thoại di động VIVO Y02A, màu xanh, IMEI: 868810064864666; IMEI 2: 868810064864674, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho Quang Minh C1 do vật chứng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Sơn C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội đề nghị mức từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng các điểm a, c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c, khoản 2 và điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng được liệt kê từ mục số 01 đến mục số 06 gồm: vật chứng đã được niêm phong gửi đi giám định và được hoàn lại trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 423/2024, ngày 07/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K; một thùng nhựa, ba bình thủy tinh, một bật lửa và một cây kéo bằng kim loại không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc điện thoại di động của Trương Sơn C dung để liên lạc rủ C1 sử dụng ma túy.

Tại phiên tòa:

Bị cáo C không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết luận giám định và khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: trong khoảng thời gian bị giữ, bị giam cho đến nay, bị cáo đã thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi sai trái của mình. Kính mong HĐXX xem xét xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm quay về giúp ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo C là đối tượng nghiện ma túy. Tối ngày 30/4/2024, sau khi mua được ma túy từ người tên G, C đến nhà trọ của K và T sử dụng ma túy nhưng không có họ ở nhà và cửa phòng không khóa nên C đã tự ý vào phòng trọ đem 03 cây nỏ để vào phòng rồi bỏ đi. Khoảng 22 giờ C quay lại thì K và T vẫn chưa về nên C đã tự ý vào phòng chia ma túy ra làm 04 bịch nhỏ và lấy 01 bịch ra để vào nỏ sử dụng, còn lại 03 bịch Cảnh giấu vào thùng nhựa màu trắng hiệu Kova. Khoảng 01 giờ ngày 01/5/2024 K và T đi về phòng trọ, cả hai cự cãi nhau K bỏ đi ngủ, còn T nói chuyện với C và C rủ T sử dụng ma túy. Trong lúc đó, C dùng điện thoại Oppo A15 màu xanh của mình nhắn tin qua Zalo cho Quang M Chúc rủ đến phòng trọ của T để sử dụng ma túy nhưng không nói cho T biết. Do C1 không có xe nên C đã nhờ T đi rước Chúc. Trong thời gian T đi rước C1, C đã bày sẵn ma túy. Khi T rước C1 về đến phòng trọ, cả ba người đã cùng với C sử dụng trái phép chất ma túy, mỗi người sử dụng 02 đến 03 lần. Như vậy, đối với T và C1 thì bị cáo C đã có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ để T và C1 sử dụng ma túy trái phép. Đến 02 giờ ngày 01/5/2024 cả ba đã bị Công an thị trấn K bắt quả tang, thu giữ 03 (ba) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tỉnh thể màu trắng được C giấu vào thùng nhựa màu trắng hiệu Kova đã niêm phong gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 409/KL-KTHS ngày 6/5/2024 của phòng K1 Công an tỉnh K đã kết luận “Nhiều hạt tinh thể, không đồng nhất chứa trong 03 (ba) bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4888 gam".

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người sử dụng ma túy là Quang Minh C1 và Hồ Thị T, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc bắt giữ bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với bản kết luận giám định. Do đó đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, đủ để nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, xã hội lên án, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh mà bị cáo đã mua ma túy để tự sử dụng và cung cấp ma túy, dụng cụ để 02 người khác cùng sử dụng ma túy với mình và tự ý cất giữ ma túy còn lại để dành sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của bản thân và của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hành vi của tầng lớp thanh thiếu niên, làm phức tạp thêm tình hình an ninh và trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thể hiện có nhân thân tốt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5]Về hình phạt bổ sung:

theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 BLHS 2015 thì bì cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, bị cáo có thể bị cáp dụng phạt tù để cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:

Áp dụng các điểm a, c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c, khoản 2 và điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu, tiêu hủy vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm gồm: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định; 01 (một) thùng nhựa, nhãn hiệu KOVA; 03 (ba) bình thủy tinh; 01 (một) bật lửa màu vàng, ghi thông tin TANAKA; 01 (một) cây kéo bằng kim loại.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Oppo A15 màu xanh mà Trương Sơn C dung để liên lạc rủ rê người khác sử dụng ma túy.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động VIVO Y02A, màu xanh, IMEI: 868810064864666, IMEI 2: 868810064864674, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho Quang Minh C1 do vật chứng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án là đã thực hiện đúng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí:

áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trương Sơn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy:

gồm Quang Minh C1 và Hồ Thị T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính và đã bị Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng số tiền 1.500.000đ là đã thực hiện đúng theo quy định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

[9] Đối với đối tượng tên G:

đã bán ma túy cho bị cáo C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa xác định được đối tượng và sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Tuyên bố bị cáo Trương Sơn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Sơn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/5/2024).

2. Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng:

Áp dụng các điểm a, c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c, khoản 2 và điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, vụ số: 423/2024, ngày 07/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H1 và người chứng kiến Huỳnh Chí N.
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thùng nhựa, nhãn hiệu KOVA, màu trắng, đã qua sử dụng; 03 (ba) bình thủy tinh, trên đầu 02 bình có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tỉnh; 01 bình thủy tinh trên đầu có gắn 01 ống nhựa (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy), đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu vàng, ghi thông tin TANAKA, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài màu đỏ, đã qua sử dụng và 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động OPPO A15 màu xanh, IMEI: 861711050359496; IMEI 2: 861711050359488, bên ngoài bị vỡ kính, đã qua sử dụng (của Trương Sơn C).

Toàn bộ vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKSKL ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trương Sơn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trương Sơn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Quang Minh C1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng Hồ Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tự ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang (khi án có HLPL);
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Kiên Lương;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Kiên Lương;
  • - Trại tạm giữ CA huyện Kiên Lương;
  • - Phòng Hộ tịch Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Kiên Lương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thành Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HSST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Sơn Cảnh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trương Sơn Cảnh 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/5/2024).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger