Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn
  • Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐST - HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Trân C, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn D, Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ C đường B, phường H, quận N, TP .. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Ý kiến của Nguyên đơn trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án:

Bà Võ Thị Trân C và ông Võ Đ kết hôn vào ngày 26/12/2018, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận N, Thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Mặt khác ông Đ không có trách nhiệm với gia đình, nên từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến lạnh nhạt tình cảm. Từ năm 2022 bà C và ông Đ sống ly thân cho đến này. Nay bà C xác định không còn tình cảm yêu thương ông Đ nữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà và ông Đ có 01 con chung là: Võ Gia K, sinh ngày 07/11/ 2018, hiện nay cháu đang sống cùng ông Đ. Ly hôn, bà có nguyện vọng giao con cho ông Võ Đ trực tiếp nuôi dưỡng và bà cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

* Bị đơn ông Võ Đ trong suốt quá trình tố tụng đều vắng mặt nên không có ý kiến thể hiện hồ sơ.

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
  • Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.
  • - Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.
  • - Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.
  • - Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
  • * Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:
  • Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng.

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; căn cứ Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung của bà Võ Thị Trân C đối với ông Võ Đ.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Trân C được ly hôn ông Võ Đ.
  • - Về con chung: Đề nghị giao con Võ Gia K, sinh ngày 07/11/2018 cho ông Võ Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà Võ Thị Trân C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Do ông Đ vắng mặt nên không xác định được có hay không tài sản chung và nợ chung nên tách ra giải quyết khi các bên đương có yêu cầu.

Nguyên đơn phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà C là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Võ Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà C và ông Đ.

[2] Về nội dung vụ án bà Bà Võ Thị Trân C và ông Võ Đ kết hôn vào ngày 26/12/2018, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận N, Thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Mặt khác ông Đ không có trách nhiệm với gia đình, nên từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến lạnh nhạt tình cảm. Từ năm 2022 bà C và ông Đ sống ly thân cho đến này. Nay bà C xác định không còn tình cảm yêu thương ông Đ nữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với ông Đ.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà C thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Trong thời gian mâu thuẫn đến nay vợ chồng cũng không tìm được tiếng nói chung, cũng như không có giải pháp để cùng nhau dung hòa mâu thuẫn cải thiện lại quan hệ vợ chồng đã chấm dứt từ lâu. Khi bà C nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng ông Đ đều vắng mặt thể hiện ý thức ông không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Do đó thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thấy có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C đối với ông Đ là phù hợp với điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà C và ông Đ có 01 con chung là Võ Gia K, sinh ngày 07/11/2018. Ly hôn, bà có nguyện vọng giao con Võ Gia K cho ông Võ Đ trực tiếp nuôi dưỡng và bà cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc giao con cho ông Đ nuôi thì thấy cháu K đang có cuộc sống sinh hoạt ổn định với ông Đ, thấy không nhất thiết phải thay đổi xáo trộn cuộc sống của cháu, nên yêu cầu về con chung của bà C là phù hợp Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận,

[5] Về tài sản chung và nợ chung bà C xác định không có, tuy nhiên tại phiên tòa do ông Đ vắng mặt nên không có cơ sở xác định vợ chồng có hay không tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập xem xét, tách ra sau này các đương sự nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.

[6] Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ, Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000₫ bà Võ Thị Trân C phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0003307 ngày 14 tháng 6 năm 2024, bà Võ Thị Trân C phải nộp thêm 300.000đ.

Xét đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 81, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của bà Võ Thị Trân C đối với ông Võ Đ.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Trân C được ly hôn ông Võ Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 148/2018 ngày 26/12/2018 của UBND phường H, quận N, TP . không còn hiệu lực).
  2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Võ Gia K, sinh ngày 07/11/2018 cho ông Võ Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà Võ Thị Trân C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015

  1. Về tài sản chung và nợ chung : Tách ra khi có yêu cầu thì giải quyết vụ án khác.
  2. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ, Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000₫ bà Võ Thị Trân C phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0003307 ngày 14 tháng 6 năm 2024, bà Võ Thị Trân C phải nộp thêm 300.000₫.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện KSND quận Ngũ Hành Sơn; ĐN
  • - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; ĐN
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Lương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger