Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 28/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 30/7/2024

V/v “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trần Quốc Hay

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Nho Dũng và bà Trịnh Thị Thu Huyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Khải – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1961; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Tôi và ông Nguyễn Thanh B tự nguyện kết hôn năm 1992, được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 169 ngày 26/10/1992.

Thời gian đầu chúng tôi sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do ông B ăn chơi, thường xuyên uống rượu về quậy phá gia đình và đánh đập tôi. Tôi đã nhiều lần khuyên can nhưng anh B vẫn chứng nào tật nấy, tôi luôn phải sống trong sự đau khổ tột cùng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn với nhau được nữa nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Thị Như Q, sinh năm: 1993 và Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1998. Hiện nay, hai con đều đã trên 18 tuổi, tuy nhiên con Nguyễn Thị Thúy N bị khuyết tật, không có khả năng lao động. Tôi yêu cầu Toà giao con Nguyễn Thị Thúy N cho tôi trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn, tôi không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:

Tôi và bà Nguyễn Thị L tự nguyện kết hôn năm 1992, được Ủy ban nhân dân phường C cấp Giấy chứng nhận kết hôn.

Trong quá trình chung sống giữa chúng tôi thường xuyên mâu thuẫn với nhau, nguyên nhân là do bà L không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, chồng con. Tôi đã nhiều lần khuyên răng, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không chịu sửa đổi. Nay bà L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với tôi, tôi đồng ý.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Thị Như Q, sinh năm: 1993 và Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1998. Hiện nay, hai con đều đã trên 18 tuổi, tuy nhiên con Nguyễn Thị Thúy N bị khuyết tật, không có khả năng lao động. Tôi đồng ý giao con Nguyễn Thị Thúy N cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ý kiến của các đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh B tự nguyện kết hôn năm 1992, được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 169, ngày 26/10/1992 nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống: Trong quá trình chung sống cả bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh B đều xác định vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Căn cứ vào lời khai của của các bên có thể xác định giữa bà L và ông B hiện nay không có tiếng nói chung, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và B đã đến mức trầm trọng, có kéo dài để sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Nguyễn Thanh B.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh B có 02 con chung là Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 09/5/1993 và Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 03/12/1998. Hiện nay, con chung Nguyễn Thị Như Q đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với con chung Nguyễn Thị Thúy N cũng trên 18 tuổi nhưng đang bị khuyết tật, không có khả năng lao động và tự chăm sóc bản thân. Cả nguyên đơn và bị đơn đều có ý kiến giao con Nguyễn Thị Thúy N cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến này. Bà L không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh B đều không yêu cầu Toà án giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Khoản 4 Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, cụ thể
    1. 1.1: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh B.
    2. 1.2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 03/12/1998 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn. Bà L không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0004663 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Cam Ranh;
  • - Chi cục THADS thành phố Cam Ranh;
  • - UBND phường Cam Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Hay

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ – ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger