Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Túc

- Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Khánh Quốc

Bà Phan Thị Bích

Bà Nguyễn Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Yêu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Dương Quang X, sinh năm 1989 tại Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở hiện tại: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Quang P (Đã chết); con bà Dương Thị S, sinh năm 1968. Bị cáo có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1992. Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (đã được xóa án tích). Ngày 08/01/2019 bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.000.000đ về hành vi không giao nộp vũ khí theo quy định (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến nay. Được trích xuất, có mặt.

2. Hoàng Văn Đ, sinh năm 2001 tại Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Con ông Hoàng Văn Đ1 (Đã chết); con bà Nông Thị H1, sinh năm 1981. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến nay. Được trích xuất, có mặt.

3. Tống Văn D, sinh năm 1995 tại Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tốn giáo: Không. Con ông Tống Đức H2, sinh năm 1956; con bà La Thị Đ2, sinh năm 1960. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến nay, được trích xuất; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Quang X: Luật sư Lê Hồng Q, Luật sư của Công ty L1 thuộc đoàn Luật sư thành phố H; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Đ: Luật sư Nguyễn Công T, Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh H; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Tống Văn D: Luật sư Nguyễn Ngọc T1, Văn phòng L2, đoàn Luật sư tỉnh T; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Quang X có mối quan hệ quen biết nhau từ trước với một người đàn ông tên N nhà ở khu vực tỉnh Vĩnh Phúc. Qúa trình nói chuyên, N và X thỏa thuận với nhau về việc N thuê X đi mua và vận chuyển ma túy về cho N bán thì N sẽ trả tiền công cho X là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).

Chiều ngày 21/4/2023, người đàn ông tên N gọi cho X qua ứng dụn T2 bảo X liên hệ với người bán ma túy ở khu vực xã H, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình có số điện thoại 0332.019.xxx để hỏi mua 04kg (bốn kilogam) ma túy loại Ketamine và vận chuyển về khu vực cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên cho N, X đồng ý. Đến khoảng chiều ngày 22/4/2023, Dương Quang X gọi điện cho số điện thoại 0332.019.xxx thì nghe giọng một người đàn ông. X nói là người của N và đặt mua 04 kg (bốn kilogam) ma túy loại Ketamine. Người bán đồng ý và báo giá 360.000.000đ/ 01kg ma túy Ketamine rồi gửi cho X số tài khoản ngân hàng mang tên VÕ THỊ MỸ LÝ – số tài khoản 999666878 Ngân hàng Q1 (M1) để X chuyển tiền mua ma túy. Xuyên thông tin lại cho N biết thì N đồng ý, sau đó N dùng nhiều tài khoản chuyển tổng cộng số tiền 1.080.000.000đ (một tỉ không trăm tám mươi triệu đồng) vào số tài khoản ngân hàng T4 của X số 0001726509 mang tên TRIỆU THỊ NHUNG (Do trước đó X nhờ bạn là Triệu Thị N1 mở tài khoản giúp để giao dịch cá nhân), còn thiếu 360.000.000đ (ba trăm sáu mươi triệu đồng) thì N sẽ chuyển cho người bán ma túy sau. N hẹn X khoảng 23 giờ cùng ngày ra khu vực đầu cao tốc T đi Hà Nội nhận xe ô tô BKS 30E-339.93 để lên Hòa Bình nhận ma túy đồng thời gửi cho X số điện thoại của Tống Văn D, sinh năm 1995 mục đích khi nào X đi nhận ma túy thì sẽ liên lạc với D để D dẫn đường cho X vận chuyển ma túy về, tránh gặp Công an. X đồng ý rồi liên lạc với người bán ma túy hẹn đêm sẽ lên mua ma túy số lượng như đã thỏa thuận, người bán ma túy đồng ý.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, X gọi điện bảo Hoàng Văn Điệp, sinh năm 2001 sang nhà X và cùng đi lên tỉnh Hòa Bình có việc. Đ đồng ý và đi xe máy của nhà X (Đ đã mượn từ trước) sang nhà X. Sau đó, X và Đ bắt taxi (không nhớ rõ hãng xe) đi ra khu vực đầu đường C đi Hà Nội thì thấy xe nhãn hiệu KIA màu trắng, BKS 30E-339.93 đỗ ở lề đường và có một người đàn ông (Đ và X không quen biết) giao xe ô tô này cho X. X nhận xe và điều khiển xe ô tô trên chờ Đ ngồi ở ghế phụ đi lên tỉnh Hòa Bình. Trên đường đi, X có gọi cho D bảo D lên Hòa Bình đi vận chuyển ma túy và hẹn gặp D ở khu vực đèo Đ thuộc tỉnh Hòa Bình, D đồng ý. X đã chuyển số tiền 1.080.000.000đ (một tỉ không trăm tám mươi triệu đồng) cho người người bán ma túy và người đó hẹn sẽ để ma túy trong túi nilon màu đỏ tại chân cột mốc Km153 Quốc lộ F.

Khi lên đến khu vực đèo Đ, gần biển báo “Mai Châu kính chào quý khách” thì X gặp Tống Văn D đi xe ô tô BKS 20A-252.27 đang chờ. Lúc này X bảo Đ là X đi vận chuyển ma túy rồi bảo Đ đi cùng thì về sẽ trả công cho Đ số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), Đ đồng ý. X bảo Đ điều khiển xe ô tô BKS 30E-339.93 còn Xuyên sang xe ô tô của Tống Văn D ngồi ở ghế phụ rồi bảo D đi lên cột mốc Km153 Quốc lộ F nhận ma túy. D đồng ý và điều khiển xe ô tô chở X đi theo hướng Sơn La. Khi đi đến cột mốc Km153 do thấy có người đàn ông đi bộ gần đó nên X gọi cho người bán ma túy thì người bán bảo X đi lên khu vực biển báo “Vân Hồ kính chào quý khách” để anh ta kiểm tra đã. Khi D chở X tới khu vực biển báo “Vân Hồ kính chào quý khách” thì người bán ma túy gọi cho X bảo quay lại lấy ma túy đi, không sao đâu. X bảo D quay xe lại đi đến khu vực K Quốc lộ F thì X bảo D dừng xe và X xuống xe đi bộ đến khu vực cột mốc 153 thì thấy một bọc nilon màu đỏ nên X biết đó là bọc chứa ma túy Ketamine mà người bán ma túy giao cho X nên X không kiểm tra mà cầm bọc ma túy đó lên xe ô tô để ở dưới sàn xe ô tô BKS 20A-252.27 phía trước ghế phụ, rồi X ngồi ở ghế phụ bảo D đã lấy được ma túy rồi, đi về thôi. D biết đã lấy được ma túy nên đồng ý và điều khiển xe ô tô chở X cùng toàn bộ số ma túy đi về. Khi đi được một đoạn thì gặp xe ô tô BKS 30E-339.93 do Đ điều khiển nên X bảo D dừng xe rồi X cầm bọc ma túy mang sang ô tô BKS 30E-339.93 để ở dưới sàn xe phía trước ghế phụ rồi bảo Đ sang ghế phụ ngồi để X lái xe ô tô. Do có thỏa thuận về việc vận chuyển ma túy với X nên khi thấy X để bọc nilon màu đỏ ở dưới sàn xe thì Đ biết đó là bọc ma túy mà X vừa nhận để vận chuyển nhưng Đ không biết khối lượng bao nhiêu, loại ma túy gì.

Sau đó X gọi cho D bảo D gọi điện video ứng dụng Zalo để D đi xe phía trước dẫn đường cho X vận chuyển ma túy về, nếu D thấy Công an thì báo cho X biết để tránh. D đồng ý nên đã gọi video trực tiếp cho X, D điều khiển xe ô tô đi trước, X điều khiển xe ô tô chở Đ đi sau. Trên đường đi do sống điện thoại kém nên có lúc cuộc gọi bị ngắt kết nối nên X và D phải gọi lại cho nhau nhiều lần. Khi X và Đ đi đến khu vực Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình thì gặp lực lượng Công an ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra, X biết không bỏ chạy được nên đã dừng xe bảo Đ ném bọc ma túy đi, Đ cầm bọc ma túy xuống xe chạy về phía trước khoảng gần 20m thì ném bọc ma túy xuống rãnh nước bên phải quốc lộ F hướng Sơn La đi Hà Nội thì bị cơ quan Công an khống chế bắt quả tang thu giữ tang vật và niêm phong vật chứng theo quy định. Cùng lúc đó Dương Quang X cũng bị bắt giữ tại cánh cửa xe ô tô BKS 30E-339.93. Cùng lúc này Tống Văn D cũng bị Công an ra tín hiệu dừng xe kiểm tra, quá trình làm việc D nghe được tiếng bộ đàm của lực lượng Công an thông báo với nhau là đã bắt được 02 đối tượng vận chuyển ma túy đi xe ô tô màu trắng rồi, D biết X và Đ sẽ khai ra D nên D đã xin được đầu thú về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma túy của bản thân cùng Dương Quang XHoàng Văn Đ.

Tiến hành mở niêm phong vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Dương Quang X bên trong gồm: 04 (Bốn) bọc được quấn ngoài bằng băng dính màu trắng, lớp bông màu trắng, nilon màu xanh bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (trích mẫu gửi giám định được ký hiệu lần lượt là T1, T2, T3, T4)

Tại bản Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:

Chất tinh thể trong bọc 01, bọc 02, bọc 03, bọc 04 trong hộp niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 3893,79g (Ba nghìn tám trăm chín mươi ba phẩy bảy mươi chín gam); Chất tinh thể màu trắng ký hiệu T1, T2, T3, T4 gửi giám định là ma túy, loại Ketamin (Ketamine nằm trong danh mục III, số thứ tự 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Vật chứng trong vụ án gồm: 01 (một) hộp niêm phong dán kín, một mặt có chữ: “Tổng khối lượng chất tinh thể màu trắng còn lại sau trích mẫu gửi giám định và vỏ bao bì, túi nilon trong các bọc ký hiệu từ M1 đến M4 là 3.604, 36g (ba nghìn sau trăm linh bốn phẩy ba mươi sáu gam) thu giữ khi bắt quả tang Dương Quang XHoàng Văn Đ vận chuyển trái phép chất ma túy, xảy ra tại Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình ngày 23/4/2023”. Mép dán có dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, một mặt có chữ: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Dương Quang XHoàng Văn Đ – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 23 tháng 4 năm 2023. Tại: Xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) điện thoại di động màu vàng trắng đã qua sử dụng, thu giữ tại rãnh nước bên phải Quốc lộ F hướng Sơn La đi Hà Nội (điện thoại của Hoàng Văn Đ).

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ NOKIA đã qua sử dụng, thu giữ tại hộc để đồ phía trước cần số xe ô tô BKS 30E-339.93 (điện thoại của Hoàng Văn Đ).

- 01 (một) điện thoại di động màu đen đã qua sử dụng, thu giữ trên tấm kính chắn gió phía trước vô lăng xe ô tô BKS 30E-339.93 (điện thoại của Dương Quang X).

- 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone đã qua sử dụng, thu giữ tại hộc để đồ phía sau cần số xe ô tô BKS 30E-339.93 (Điện thoại của Dương Quang X).

- 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG đã qua sử dụng (điện thoại của Dương Quang X).

- 01 (một) giấy phép lái xe số 19016700895 mang tên Dương Quang X.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, có sim số 0372821147 (điện thoại của Tống Văn D).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đã qua sử dụng, có sim số 0328133313 (điện thoại của Tống Văn D).

- 01 (một) căn cước công dân mang tên Tống Văn D, số [...]; 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC, mang tên Tống Văn D, số [...].

Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA màu trắng, gắn biển kiểm soát 30E-339.93; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 037103, tên chủ xe: Phạm Trung H3, biển số đăng ký 30E-339.93; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 30E-339.93, số 897365. Qúa trình điều tra đã xác định giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe được làm giả, chưa xác định được nguồn gốc và chủ sở hữu chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) – Công an tỉnh H ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức tách lưu kho chờ xác minh, xử lý sau.

Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10, BKS 20A-252.27 và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EA0497486 đối với xe ô tô BKS 20A-252.27. Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) – Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH D1, địa chỉ: Tầng I, tòa nhà V, số A đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Cáo trạng số: 32/CT-VKS-P1 ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Dương Quang X về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm e, khoản 4, Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố các bị cáo Hoàng Văn Đ, Tống Văn D về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm e, khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt các bị cáo:

Đối với Dương Quang X, khi bị bắt quả tang đã bị cáo đã có lời khai thể hiện sự hợp tác với cơ quan điều tra, tự giác khai báo ra các đồng phạm khác, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án; Đây là tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ ăn năn hối hận, thành khẩn khai báo, có thân nhân là ông Dương Quang T3 và bà Dương Thị M là người có công với cách, hoàn cảnh gia đình hiện tại có khó khăn, bị cáo là người duy nhất phải chăm sóc mẹ già, vợ thường xuyên ốm đau và 03 con còn nhỏ; Đề nghị áp dụng quy định tại điểm e khoản 4 Điều 251, điểm s, t Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Dương Quang X phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo X tù chung thân;

Đối với bị cáo Hoàng Văn Đ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 bộ luật hình sự; Đề nghị áp dụng điểm e khoản 4 Điều 250, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Đ 20 năm tù.

Đối với bị cáo D: Được xác định là đồng phạm cùng với Đ vận chuyển ma túy cho Dương Quang X, sau khi phạm tội bị cáo tự giác ra đầu thú, bị cáo có bố đẻ là ông Tống Đức H2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật hạn chế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đề nghị áp dụng điểm e khoản 4 Điều 250, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Tống Văn D phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo D 20 năm tù.

Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 250 và 251 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng và án phí đề nghị HHooij đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Quang X: Nhất trí về tội danh và điều luật các tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố, đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoang Văn Đ3: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố đối với bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Luật sư bào chữa cho bị cáo D: Không đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư cho rằng việc truy tố, kết tội bị cáo D là thiếu căn cứ vì còn nhiều tình tiết có liên quan chưa được xem xét đánh nên đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo quy định.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên Công an tỉnh H của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo X và bị cáo Đ3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo D khi đầu thú đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhưng sau đó khai không nhận tội, không biết hành vi của bị cáo X, bị cáo Đ3 nhưng căn cứ vào các tài liệu có trong vụ án, và quá trình xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở đề kết luận:

Ngày 23/4/2023, Dương Quang X đã có hành vi mua bán 3.893,79g ma túy loại Ketamine của người đàn ông (không rõ họ tên) có số điện thoại 033201943 ở H, P, M, Hòa Bình, sau đó về giao N bán, X được hưởng số tiền 40.000.000₫ theo thỏa thuận trước lúc đi mua may túy.

Trong vụ án này, Dương Quang X là người trực tiếp thỏa thuận với người đàn ông tên N về việc đi mua ma túy, trực tiếp nhận tiền chuyển khoản từ N và chuyển tiền cho người bán ma túy. Đồng thời, X còn là người chủ động liên lạc, hướng dẫn và chỉ đạo Hoàng Văn Đ, Tống Văn D trong suốt quá trình đi mua và vận chuyển ma túy đến khi bị bắt.

Căn cứ các biên bản phạm tội quả tang, biên bản đối chất các bị cáo và lời khai nhận tội, các tài liệu đã thu thập được, thấy có đủ sơ sở kết luận hành vi của bị cáo X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đối với Hoàng Văn Đ là người được X rủ đi vận chuyển ma túy và hứa sẽ trả công số tiền 10.000.000đ. Do hám lời, Đ đã đồng ý và đi cùng đi vận chuyển ma túy cho X. Khi bị lực lượng công an phát hiện, Đ là người cầm gói ma túy trên xe vứt xuống rãnh nước cạnh đường theo chỉ đạo của X. Hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Đối với Tống Văn D là người được X gọi điện rủ đi vận chuyển ma túy, D đã trực tiếp lái xe ô tô BKS 20A-252.27 chở X từ khu vực đèo Đ thuộc tỉnh Hòa Bình đến địa điểm nhận ma túy, sau đó D tiếp tục lái xe đi trước làm hoa tiêu dẫn đường cho Dương Quang X. Qúa trình di chuyển, D thường xuyên liên lạc với X qua ứng dụng Zalo video và gọi điện thoại cho nhau để tránh sự phát hiện của cơ quan Công an.

Lời khai ban đầu bị cáo thành khẩn khai báo, ý thức được hành vi của mình, tự giác ra đầu thú, nhưng sau đó thay đổi lời khai cho rằng không liên quan đến việc phạm tội cùng bọn, bị cáo chỉ nhận là lái xe taxi khi được X gọi điện bảo đi công việc trên Hòa Bình và sẽ trả tiền công. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của các bị cáo, các tài liệu thu giữ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Tống Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội vận chuyển trái phép chất ma túy, với vai trò là người giúp sức, cùng với Hoàng Văn Đ thực hiện hành vi vận chuyển trái phép ma túy.

Đề nghị của Kiểm sát viên, quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo Dương Quang XHoàng Văn Đ, về áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt và xử lý các vấn đề khác trong vụ án được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo D trả hồ hơ cho Viện kiểm sát để điều tra lại vụ án là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Về hậu quả của hành vi phạm tội: Các bị cáo thực hiện hành phạm tội là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, khối lượng chất ma túy lớn, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự an ninh tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác;

Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do coi thường pháp luật, thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân và hám lời nên các bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy cần phải xử lý thật nghiêm bằng pháp luật hình sự để răn đe phòng ngừa tội phạm chung là cần thiết.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Dương Quang X: Khi bị bắt quả tang bị cáo đã có lời khai thể hiện sự thành khẩn, tự giác khai ra các đồng phạm cùng có hành vi phạm tội, giúp Cơ quan Điều tra nhanh chóng điều tra kết thúc vụ án, do vậy căn cứ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng cho bị cáo; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ ăn năn hối hận, thành khẩn khai báo, có thân nhân là ông Dương Quang T3 và bà Dương Thị M là người có công với cách mạng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là trụ cột trong gia đình, có nghĩa vụ phải chăm sóc mẹ già, vợ thường xuyên ốm đau và nuôi dưỡng 03 con còn nhỏ. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Căn cứ các quy định tại điểm e khoản 4 Điều 251, điểm s, t Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo X tù chung thân theo Điều 39 Bộ luật hình sự cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Hoàng Văn Đ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự; Căn cứ các quy định tại điểm e khoản 4 Điều 250, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đ mức hình phạt 20 năm tù là phù hợp.

Đối với bị cáo Tống Văn D: Được xác định là đồng phạm cùng với Đ vận chuyển ma túy cho Dương Quang X, sau khi phạm tội bị cáo tự giác ra đầu thú, bị cáo có bố đẻ là ông Tống Đức H2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật hạn chế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Căn cứ các quy định tại điểm e khoản 4 Điều 250, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt 20 năm tù đối với bị cáo D là thỏa đáng.

Các bị cáo phạm tội chưa được hưởng lợi, hoàn cảnh gia đình có khó khăn, nên không áp dụng hình phạt đối với các bị cáo.

[4]. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên N; người đàn ông giao xe ô tô BKS 30E-339.93 cho Dương Quang X tại Cao tốc H - Thái Nguyên và người bán ma túy cho Dương Quang X, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên chưa đủ căn cứ giải quyết trong vụ án này.

Đối với người đứng tên chủ thuê bao 0332019430 quá trình điều tra xác minh là Bùi Minh H4, sinh ngày 26/9/2004, trú tại xóm T, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, chị H4 khai không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên và không biết gì về hành vi phạm tội của các bị cáo nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với chủ tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần T5 Dương Quang X dùng để nhận và chuyển tiền mua ma túy. Qúa trình điều tra xác minh là Triệu Thị N1, sinh ngày 17/12/1998, trú tại Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Chị N1 chỉ là người mở số tài khoản trên, đăng ký số điện thoại cho X là người trực tiếp quản lý, sử dụng và chị N1 không sử dụng tài khoản này và không biết về hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai của chị N1 phù hợp với lời khai của bị cáo X nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với các số tài khoản đã chuyển tiền vào tài khoản số 0001726509 mang tên Triệu Thị N1 ở ngân hàng thương mại cổ phần T5 quá trình điều tra chưa xác định được cụ thể. Số tài khoản 999666878 ngân hàng Q1 (M1) mang tên Võ Thị Mỹ L, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Võ Thị Mỹ L, sinh ngày 29/9/1971. Nơi thường trú: Thôn H, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ số tiền dư cuối kỳ và các thông tin về giao dịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành ra lệnh phong tỏa tài khoản đối với số tiền 560.905.655₫ (Năm trăm sáu mươi triệu chín trăm linh năm nghìn, sáu trăm năm mươi lăm đồng) đồng thời ủy thác cơ quan Cảnh sát điều tra huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, xác minh, triệu tập Võ Thị Mỹ L để làm rõ. Tuy nhiên, Võ Thị Mỹ L không có mặt ở địa phương nên chưa đủ cơ sở kết luận làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra để xác minh làm rõ và xử lý sau nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

[5] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các điện thoại di động thu giữ, được xác định các các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đã qua sử dụng, có sim số 0328133313 (điện thoại của Tống Văn D) và 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ NOKIA đã qua sử dụng, thu giữ tại hộc để đồ phía trước cần số xe ô tô BKS 30E-339.93 của Hoàng Văn Đ, các bị cáo dùng để liên lạc cá nhân không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với giấy phép lái xe số [...] mang tên Dương Quang X; 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Tống Văn D; Là giấy tờ tùy thân của các bị cáo, cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 giấy phép lái xe số [...] hạng FC, mang tên Đào Văn S1. Do bị cáo Tống Văn D giao nộp có trong hồ sơ vụ án. Xét trong quá trình điều tra chưa xác minh làm rõ thông tin được ghi không đúng với căn cước công dân của Tống Văn D; Do vậy cần trả lại Cơ quan Điều tra Công an tỉnh H để xác minh, làm rõ, xử lý theo quy định.

[6] Về án phí: Các bị cáo Dương Quang X, Hoàng Văn Đ, Tống Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Quang X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Hoàng Văn Đ, Tống Văn D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

1.Về hình phạt, điều luật áp dụng:

Đối với bị cáo Dương Quang X: Căn cứ điểm e Khoản 4 Điều 251; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Dương Quang X tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2023.

Đối với bị cáo Hoàng Văn Đ: Căn cứ điểm e Khoản 4 Điều 250; Điểm s khoản, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hoàng Văn Đ 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2023.

Đối với Tống Văn D: Căn cứ điểm e Khoản 4 Điều 250; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Tống Văn D 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) hộp niêm phong dán kín, một mặt có chữ: “Tổng khối lượng chất tinh thể màu trắng còn lại sau trích mẫu gửi giám định và vỏ bao bì, túi nilon trong các bọc ký hiệu từ M1 đến M4 là: 3.604,36g (ba nghìn sáu trăm linh bốn phấy ba mươi sáu gam) thu giữ khi bắt quả tang Dương Quang XHoàng Văn Đ vận chuyển trái phép chất ma túy, xảy ra tại: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình ngày 23/4/2023”. Trên mép dán có dấu tròn đỏ niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, một mặt có chữ: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Dương Quang XHoàng Văn Đ – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 23 tháng 4 năm 2023. Tại: Xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách nhà nước đối với:

- 01(một) điện thoại di động màu đen đã qua sử dụng, thu giữ trên tấm kính chắn gió phía trước vô lăng xe ô tô BKS 30E-339.93 (điện thoại của Dương Quang X).

- 01(một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone đã qua sử dụng, thu giữ tại hộc để đồ phía sau cần số xe ô tô BKS 30E-339.93 (Điện thoại của Dương Quang X).

- 01 một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG đã qua sử dụng (điện thoại của Dương Quang X).

- 01(một) điện thoại di động màu vàng trắng đã qua sử dụng, thu giữ tại rãnh nước bên phải Quốc lộ F hướng Sơn La đi Hà Nội (điện thoại của Hoàng Văn Đ).

- 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, có sim số 0372821147(Điện thoại của Tống Văn D).

Trả lại cho các bị cáo:

Dương Quang X: 01 (một) giấy phép lái xe số 19016700895 mang tên Dương Quang X.

Hoàng Văn Đ: 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ NOKIA đã qua sử dụng, thu giữ tại hộc để đồ phía trước cần số xe ô tô BKS 30E-339.93.

Tống Văn D: 01 (một) căn cước công dân mang số [...], mang tên Tống Văn D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đã qua sử dụng, có sim số 0328133313 (điện thoại của Tống Văn D).

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 34/BB-GNVC, lập ngày 22/7/2024, giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hòa Bình)

Giao Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H: 01(một) giấy phép lái xe hạng FC, số: [...], mang tên Đào Văn S1, sinh năm 1991, nơi cư trú: xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xử lý theo quy định (Vật chứng lưu giữ có trong hồ sơ vụ án).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Dương Quang X, Hoàng Văn Đ, Tống Văn D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - CQCSĐT; THAHS CA tỉnh Hòa Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hòa Bình;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa cho các bị cáo;
  • - Lưu H/S, THAHS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Văn Túc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy và vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội phạm ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger