Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thanh Thuỷ

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thúy Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà Nhữ Như Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/HSST-QĐ, ngày 13 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn N; giới tính: Nam; sinh ngày 24 tháng 4 năm 1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm K, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Đạo tin lành; con ông Nông Văn T và bà Vương Thị V; Vợ: Lầu Thị C, sinh năm 1986, vợ chồng có 03 con chung (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2015)

Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vi Khánh P – Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý theo quyết định cử của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Công an tỉnh T.

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Phạm Thế H, sinh năm 1992 cán bộ Phòng C3 Công an tỉnh T;

Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, Thái Nguyên.

  1. Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1992;

Địa chỉ: T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981;

Địa chỉ: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Chị Lầu Thị C, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Xóm K, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, Thái Nguyên.

  1. Anh Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, Thái Nguyên.

  1. Anh Dương Phong Q, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ 05, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên

  1. Anh Trần Văn T3, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ I, phường C, thành phố T, Thái Nguyên.

  1. Anh Lưu Văn H1, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Ông Hoàng Văn H2, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Xóm S, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Xóm S, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Anh Vũ Đình C1, sinh năm 1981.

Địa chỉ: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Người chứng kiến: Ông Lưu Hữu C2, sinh năm 1962.

Địa chỉ: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên:

  1. Ông Nguyễn Nam T4- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

  1. Ông Chu Văn B- Cán bộ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Ông Nguyễn Việt H3-Cán bộ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 4950/KH-CAT(PC08) ngày 25/7/2023 của Giám đốc Công an tỉnh T; Kế hoạch số 17/KH-CAĐH ngày 01/02/2024 về tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông tháng 2/2024 và Kế hoạch công tác tuần về tuần tra, kiểm soát giao thông của Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện Đ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 04/02/2024. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, Tổ công tác gồm: Phạm Thế H - Cán bộ Phòng C3, Công an tỉnh T - Tổ trưởng Tổ công tác; Lưu Văn H1 - Cán bộ Phòng Cảnh sát cơ động, Công an tỉnh T; Dương Phong Q, Hoàng Văn T1, Trần Văn T3, Nguyễn Ngọc DNguyễn Tuấn L - Cán bộ Đội Cảnh sát giao thông - trật tự, Công an huyện Đ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm chuyên đề nồng độ cồn tại Km 134+900 đường Q (Bắc Giang - Thái Nguyên) thuộc khu vực Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ và biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với Nông Văn N về hành vi điều khiển xe môtô mà trong hơi thở có nồng độ cồn (mức 0,558mg/L); Không có Giấy phép lái xe; Điều khiển xe không có giấy đăng ký xe theo quy định và không có giấy chứng nhận Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực. Tuy nhiên, N không ký vào biên bản vi phạm ngay, mà đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày N mới quay lại ký biên bản và đã tự ý sử dụng chìa khóa mở khóa điện, nổ máy và ngồi lên xe môtô BKS: 20B2 - 293.33 của mình (xe lúc này đã bị niêm phong) điều khiển bỏ chạy hướng ra đường Q. Lúc này, ông Hoàng Văn T1 nhìn thấy và yêu cầu N dừng phương tiện, đồng thời ngăn cản xe mô tô của N lại nhưng N không chấp hành cố tình điều khiển xe mô tô bỏ chạy dẫn đến xe mô tô kéo ông T1 ngã ra đường và đâm va vào phần phía dưới bên phải ba đờ sốc xe ôtô biển kiểm soát 20A - 488.38 đang lưu thông trên đường Quốc lộ 17 theo hướng xã K đi Chùa H5 do anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1981, trú tại Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển và xe của N tiếp tục đâm va vào phần phía dưới cánh cửa trước và phần ốp phía dưới cánh cửa bên lái xe ôtô BKS: 20A - 006.99 (phương tiện của Phòng C3, Công an tỉnh T) đỗ sát lề đường bên phải theo hướng xã K đi phường C thì bị đổ xuống đường. Tổ công tác liền tiếp cận và khống chế N, đồng thời, báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Công an thị trấn H đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nông Văn N và thu giữ xe mô tô của N.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 01/02/2024 của Khoa sinh hóa, Bệnh viện T5 cho kết quả: Định lượng cồn trong máu của Nông Văn N là 37,45 mmol/L, vượt quá chỉ số bình thường; Âm tính với các chất ma túy.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 89/KLGĐTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung Tâm pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn T1 tại thời điểm giám định là: 3%.

Tại kết luận định giá số 03/KL- HĐĐGTS ngày 04/3/2024 kết luận thiệt hại đối với xe ô tô BKS 20A-488.38 là 700.000đ. Tại kết luận định giá số 04/KL- HĐĐGTS ngày 04/3/2024 kết luận thiệt hại đối với xe ô tô chuyên dụng BKS 20A-006.99 là 800.000đ.

Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (Một) xe ô tô chuyên dụng BKS 20A- 006.99, đã trả lại cho Phòng C3, Công an tỉnh T quản lý, sử dụng.
  • 01 xe ô tô BKS 20A-488.38 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn T2 quản lý, sử dụng.
  • 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20B2 - 293.33 màu sơn xanh đen, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, xe cũ đã qua sử dụng. Hiện đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định

Về trách nhiệm dân sự: Công an tỉnh T, anh Hoàng Văn T1 và anh Nguyễn Văn T2 không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSĐH, ngày 19/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Nông Văn N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn N khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên bản Cáo trạng số 25/CT-VKSĐH, ngày 19/4/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”:

  • - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nông Văn N từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/02/2024; về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; Về vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị C không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa của bị cáo trình bày: Thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố bị cáo;Thống nhất với việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật, các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình, xem xét việc bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho anh T1 số tiền 170.000đ, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS xem xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, về án phí đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Kiểm sát viên đối đáp xác định giữ nguyên quan điểm truy tố và mức đề nghị về hình phạt, về án phí tại phiên toà bị cáo đề nghị miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, tại Km 134+900 đường Q (Bắc Giang - Thái Nguyên) thuộc khu vực Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ. Sau khi bị Tổ công tác của Phòng C3 Công an tỉnh T phối hợp với Đội giao thông Công an huyện Đ lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ phương tiện, Nông Văn N không chấp hành yêu cầu của tổ công tác, đã tự ý lấy và điều khiển phương tiện vi phạm bỏ chạy làm ông Hoàng Văn T1 là cán bộ tổ công tác bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 03% và tiếp tục đâm và vào 02 xe ô tô, làm thiệt hại tổng giá trị tài sản là 1.500.000đ.

Hành vi trên của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”, được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1.Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Bản Cáo trạng số 25/CT-VKSĐH, ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Nông Văn N theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo N phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Việc làm trên còn ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn cho xã hội tại địa phương. Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đốivới bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa thấy phù hợp, cần chấp nhận.

Xét đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo phạm tội Chống người thi hành công vụ, hành vi của bị cáo xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Do đó việc gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh T1 số tiền 170.000đ, Hội đồng xét xử không áp dụng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.

[5] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Quyết định tạm giam bị cáo Nông Văn N 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Công an tỉnh T, ông Hoàng Văn T1 và ông Nguyễn Văn T2 không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[7] Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20B2 - 293.33 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, khi bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội chị C không biết, nên cần trả lại cho bị cáo và gia đình quản lý sử dụng.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế có điều kiện đặc biệt khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, tại phiên toà bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10]. Các vấn đề khác: Sau khi xảy ra sự việc Cơ quan Công an đã tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Nông Văn N kết quả: 37,45 mmol/L, vượt quá chỉ số bình thường, CQĐT đã chuyển để xử lý hành chính là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Nông Văn N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”

Xử phạt Nông Văn N 06 ( Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 01/02/2024.

  1. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nông Văn N 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc xe môtô BKS: 20B2 - 293.33 màu sơn xanh đen, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, số máy JA36E0839004, số khung 364LY000791, dung tích xi lanh 109cm3, xe cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ)

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn N.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị C có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công an tỉnh T, anh Hoàng Văn T1 và anh Nguyễn Văn T2 vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đồng Hỷ;
  • - Công an huyện Đồng Hỷ;
  • - THADS huyện Đồng Hỷ;
  • - THA phạt tù;
  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châm Thị Vân Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châm Thị Vân Khánh

Bị hại là chị H4 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger