Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP.PHAN RANG-THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Lam
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/QÐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Bùi Ngọc V, sinh năm: 1982.
  • Địa chỉ: Số H, đường N, khu phố B, phường Đ, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lương Thu N, sinh năm 2001
  • Địa chỉ: A đường B, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • - Bị đơn: Bà Mai Thị Xuân S, sinh năm 1979
  • Địa chỉ: 2 T, khu phố B, phường Đ, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.

Lương Thu N có mặt tại phiên tòa; bà Mai Thị Xuân S vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bày:

Ngày 19/11/2019, bà Mai Thị Xuân S có vay tiền của ông Bùi Ngọc V, giữa hai bên có lập “Hợp đồng vay tài sản” (vay tiền) và có công chứng tại Văn phòng C. Theo đó, hai bên thỏa thuận số tiền vay: 300.000.000 đồng; thời hạn vay tiền 02 năm kể từ ngày công chứng hợp đồng (từ 19/11/2019 đến 19/11/2021), lãi suất ghi trong hợp đồng tự thỏa thuận. Ông V trình bày lãi suất thỏa thuận giữa hai bên là 6%/ tháng; Thực hiện hợp đồng, ông V trình bày bà Mai Thị Xuân S có trả được 04 tháng tiền lãi với số tiền lãi khoảng 62.000.000 đồng. Việc trả lãi bằng tiền mặt và giữa hai bên không lập giấy tờ giao nhận. Do thời gian đã lâu và không nhớ chính xác nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về số lãi các bên đã thanh toán trước đó.

Từ ngày 19/3/2020 đến nay, bà S không trả thêm tiền lãi và tiền gốc cho ông V như đã thỏa thuận. Nguyên đơn yêu cầu bà S phải thanh toán tiền gốc và lãi phát sinh từ ngày 19/3/2020 đến khi thanh toán xong khoản vay.

Mặc dù đã nhiều lần yêu cầu bà S thanh toán nhưng bà không chịu trả tiền lãi và số tiền gốc đã vay. Ngày 13/11/2020, ông V đã làm thông báo gửi cho bà S nhưng bà không nhận thông báo.

Để tạo sự tin tưởng đối với bên cho vay, bà S đã giao cho ông Bùi Ngọc V giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO571060, số vào sổ cấp GCN: CS03976 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/11/2018. Tuy nhiên, giữa các bên không ký kết hợp đồng thế chấp và không đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nên ông Bùi Ngọc V thay đổi yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu Tòa án giải quyết duy trì hợp đồng thế chấp tài sản ngày 19/11/2019 theo đơn khởi kiện ban đầu.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

Buộc bà Mai Thị Xuân S phải trả cho ông Bùi Ngọc V số tiền gốc 300.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật từ ngày 19/3/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

Đối với bị đơn bà Mai Thị Xuân S: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng bà S không đến Tòa án, do đó không thể lấy lời khai, không tiến hành hòa giải được theo quy định.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do, không có bất kỳ ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau:

  • - Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 262 BLTTDS;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 398, Điều 463, 466, 468, 469 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Ngọc V với bị đơn bà Mai Thị Xuân S. Do lãi suất các bên không thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng vay tài sản nên khi có tranh chấp xảy ra, lãi suất sẽ được tính bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Do đó, buộc bà Mai Thị Xuân S phải trả cho ông Bùi Ngọc V số tiền nợ gốc và lãi theo quy định của pháp luật tính đến ngày 30/5/2024 là: 300.000.000 đồng + 125.916.667 đồng = 425.916.667 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu chín trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng.
    1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đối tượng tranh chấp giữa ông Bùi Ngọc V và bà Mai Thị Xuân S là hợp đồng vay tài sản, vì vậy xác định đây là quan hệ pháp luật dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố B, phường Đ, thành phố P - T và nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T giải quyết. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
    2. Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T đã tiến hành xác minh về nơi cư trú của bà Mai Thị Xuân S tại khu phố B, phường Đ, thành phố P -T và xác định bà Mai Thị Xuân S không thường xuyên sinh sống tại địa phương, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T căn cứ vào Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự thực hiện việc tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Mai Thị Xuân S tại địa chỉ khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
    3. Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn bà Mai Thị Xuân S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện ông Bùi Ngọc V yêu cầu bà Mai Thị Xuân X phải thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh tổng cộng 455.833.334 đồng và yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản đối với quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO571060, số vào sổ cấp GCN: CS03976 do Sở T cấp ngày 23/11/2018 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Sau đó, nguyên đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi vay phát sinh từ ngày 19/3/2020 đến khi xét xử sơ thẩm với lãi suất theo quy định của pháp luật. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.
    2. Về tính hợp pháp của hợp đồng vay ngày 19/11/2019:

      Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của đương sự thấy rằng:

      Ngày 19/11/2019, giữa ông Bùi Ngọc V và bà Mai Thị Xuân S có ký kết hợp đồng vay tài sản, hợp đồng có công chứng tại Văn phòng C Theo đó, ông V cho bà S vay 300.000.000 đồng; thời hạn vay 02 năm (từ 19/11/2019 đến 19/11/2021); lãi suất do các bên thỏa thuận.

      Xét thấy, chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên Hợp đồng vay tài sản ngày 19/11/2019 giữa ông Bùi Ngọc V và bà Mai Thị Xuân S được coi là hợp pháp, có hiệu lực.

    3. Xét yêu cầu thanh toán gốc của khoản tiền vay:

      Hợp đồng vay tài sản được công chứng tại Văn phòng C1, là một trong những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù bà Mai Thị Xuân S không đến Tòa án và không có văn bản trình bày, nhưng có cơ sở khẳng định có sự việc bà S vay của ông V số tiền 300.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng bị đơn không đến làm việc nên không có chứng cứ để chứng minh về việc bị đơn đã trả tiền gốc cho nguyên đơn hay chưa. Vì vậy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Ngọc V về việc buộc bà Mai Thị Xuân S phải thanh toán số tiền gốc còn nợ 300.000.000 đồng là phù hợp.

    4. Xét yêu cầu thanh toán lãi của khoản tiền vay:

      Đối với tiền lãi từ thời gian 19/11/2019 đến 18/3/2020: ông Bùi Ngọc V cho rằng bà S đã trả đủ lãi theo thỏa thuận giữa hai bên và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

      Đối với tiền lãi từ ngày 19/3/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/5/2024):

      Căn cứ vào hợp đồng vay tiền do ông V cung cấp cho thấy hai bên chỉ thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất cho vay; bị đơn bà Mai Thị Xuân S vắng mặt nên không có căn cứ chứng minh mức lãi suất vay mà hai bên thỏa thuận là bao nhiêu. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự để áp dụng mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 10%/ năm là phù hợp với quy định của pháp luật. Tiền lãi được tính từ ngày 19/3/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/5/2024 (gồm 1511 ngày ) là: (300.000.000 đồng x 10%/12 tháng/ 30 ngày x 1511 ngày) = 125.916.667 đồng

      Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Ngọc V. Buộc bà Mai Thị Xuân S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Bùi Ngọc V số tiền tổng cộng là: 425.916.667 đồng. Bao gồm nợ gốc 300.000.000 đồng và lãi phát sinh 125.916.667 đồng.

    5. Tại phiên tòa hôm nay, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
    6. Về án phí:

      Mai Thị Xuân S phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả nợ cho ông Bùi Ngọc V số tiền là 21.036.000 (Hai mươi mốt triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

      Ông Bùi Ngọc V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: Hoàn lại cho ông Bùi Ngọc V số tiền 11.117.000 đồng (Mười một triệu một trăm mười bảy nghìn đồng).

    7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 398, Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Ngọc V đối với bà Mai Thị Xuân S. Buộc bà Mai Thị Xuân S có nghĩa vụ trả nợ cho ông Bùi Ngọc V theo Hợp đồng vay tiền ngày 19/11/2019 số tiền tính đến ngày 30/5/2024 là 425.916.667 đồng. Trong đó: Nợ gốc 300.000.000 đồng; nợ lãi 125.916.667 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại điều 357 và khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  2. Về án phí: Bà Mai Thị Xuân S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.036.000 (Hai mươi mốt triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

    Ông Bùi Ngọc V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Bùi Ngọc V số tiền 11.117.000 đồng (Mười một triệu một trăm mười bảy nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T theo biên lai thu số: 0005575 ngày 14 tháng 7 năm 2023.

  3. Về quyền yêu cầu thi hành án:

    Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2024), đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPPRTC;
  • - CCTHADS TP.PR-TC;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Mai Thị Xuân S phải trả tiền vay cho ông Bùi Ngọc V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger