|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 30-5-2024. V/v tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đinh Ngọc Minh.
Ông Võ Tấn Thành.
— Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án của
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc H, sinh năm 1989, địa chỉ: Số nhà 14/2, ấp L, xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
Bị đơn: Ông Mai Thanh P, sinh năm 1985, địa chỉ: Số nhà 177/5, Ấp 5, xã Hiệp Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Trương Thị Ngọc H là nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Bà H và ông P kết hôn với nhau vào năm 2008, đến năm 2016 thì bà H và ông P ly hôn. Năm 2017, bà H và ông P tiếp tục chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Thạnh vào năm 2022. Bà H và ông P chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà H và ông P không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Bà H và ông P không còn sống chung từ tháng 9 năm 2023 đến nay.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đính của hôn nhân không đạt được, nên bà H quyết định xin ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà H và ông P có 02 con chung tên Mai Trương Bảo Nam, sinh ngày 13/02/2009 và Mai Trương Bảo Anh, sinh ngày 01/02/2010, hiện nay 02 con đang sống chung với bà H. Nếu được ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà H và ông P không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà H cam kết là bà H và ông P không có nợ chung.
Bị đơn là ông Mai Thanh P không tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trương Thị Ngọc H và ông Mai Thanh P sống chung với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Thạnh vào năm 2022. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông P, căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết.
[2] Bà Trương Thị Ngọc H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, ông Mai Thanh P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bà Trương Thị Ngọc H và ông Mai Thanh P.
[3] Bà Trương Thị Ngọc H và ông Mai Thanh P chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà H và ông P không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Các đương sự không hòa giải được mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bà H và ông P không còn sống chung từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Ông P không tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự là trầm trọng, đời sống chung của các đương sự không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, cho bà H ly hôn với ông P.
[4] Về con chung: Bà Trương Thị Ngọc H và ông Mai Thanh P có 02 con chung tên Mai Trương Bảo Nam, sinh ngày 13/02/2009 và Mai Trương Bảo Anh, sinh ngày 01/02/2010, hiện nay 02 con đang sống chung với bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông P không có ý kiến gì về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Mai Trương Bảo Nam và Mai Trương Bảo Anh mong muốn được sống chung với bà H. Yêu cầu của bà H phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[5] Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Bà Trương Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, ông Mai Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Ngọc H, cho bà Trương Thị Ngọc H ly hôn với ông Mai Thanh P.
- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Mai Trương Bảo Nam, sinh ngày 13/02/2009 và Mai Trương Bảo Anh, sinh ngày 01/02/2010 cho bà Trương Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông Mai Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Trương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Trương Thị Ngọc H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008686, ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ông Mai Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Trương Thị Ngọc H và ông Mai Thanh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Tùng |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà H ly hôn với ông P
