|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/7/2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Vĩnh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Duy Bình.
2. Ông Hồ Trọng Trung.
Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST- HNGĐ ngày 22/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H - Sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Triệu Văn S - Sinh năm 1995.
ĐKHKTT: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai. Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai - Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Triệu Văn S có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh S không tu chí làm ăn, thường xuyên giao du với bạn bè xấu dẫn đến anh S nghiện ma túy lúc nào mà chị cũng không biết. Đến ngày 24/8/2023 anh S bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Từ đó chị phải một mình gánh vác mọi việc gia đình, nuôi các con ăn học. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nếu cứ tiếp tục sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của chị. Nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn cho chị được ly hôn với anh Triệu Văn S để đảm bảo cuộc sống cho mình và chăm lo cho con cái.
Về con: Trong thời gian chung sống chị và anh Triệu Văn S có 02 con chung. Cháu thứ nhất là Triệu Minh A, sinh ngày 13/01/2020; Cháu thứ hai là Triệu Trà M, sinh ngày 11/6/2022. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Hiện các cháu sống cùng chị, khi ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi cả hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị và anh Triệu Văn S tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị và anh Triệu Văn S không vay nợ cá nhân, tổ chức nào và không cho ai vay nợ gì nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Tại biên bản ghi lời khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Triệu Văn S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Triệu Văn S cũng công nhận về thời gian chung sống, thời gian vợ chồng đăng ký kết hôn như chị Lò Thị H trình bầy là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do lỗi ở anh, do anh không làm chủ được bản thân, bị bạn bè lôi kéo sử dụng ma túy dẫn đến nghiện ma túy. Ngày 24 tháng 8 năm 2023 anh bị Tòa án huyện V áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai. Nay chị H xin ly hôn, anh không nhất trí vì vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị H.
Về con: Trong thời gian chung sống anh và chị Lò Thị H có 02 con chung. Cháu thứ nhất là Triệu Minh A, sinh ngày 13/01/2020; Cháu thứ hai là Triệu Trà M, sinh ngày 11/6/2022. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Do anh đang bị bắt buộc cai nghiện nên các con hiện sống chị H. Nếu phải ly hôn anh cũng nhất trí để chị H tiếp tục nuôi cả hai con cho đến khi đủ 18 tuổi và không cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì hiện tại không có điều kiện.
Về tài sản: Chị và anh Triệu Văn S tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị và anh Triệu Văn S không vay nợ cá nhân, tổ chức nào và không cho ai vay nợ gì nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên Tòa:
- Nguyên đơn chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn anh Triệu Văn S vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm của mình đối với yêu cầu của chị H như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện V có ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: + Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;
+ Các đương sự chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của bộ luật tố tụng Dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn với anh Triệu Văn S.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Lò Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Triệu Minh A, sinh ngày 13/01/2020 và cháu Triệu Trà M, sinh ngày 11/6/2022 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Triệu Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về Tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Lò Thị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Xét thấy, bị đơn anh Triệu Văn S, ĐKHKTT tại thôn K, xã S, huyện V, Lào Cai. Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Các đương sự vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, chị Lò Thị H và anh Triệu Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn với nhau ngày 26/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị H và anh Triệu Văn S là hôn nhân hợp pháp.
Theo bản tự khai, lời khai của các đương sự, lời khai người làm chứng, xác nhận của Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai đủ căn cứ xác định: Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chị H, anh S chung sống với nhau được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S không làm chủ được bản thân, bị bạn bè lôi kéo sử dụng ma túy dẫn đến nghiện ma túy. Do đó anh S không tu chí làm ăn, chị H phải một mình gánh vác công việc gia đình và nuôi dậy con cái. Ngày 24 tháng 8 năm 2023 anh S bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định hôn nhân của chị H và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị H về việc ly hôn với anh Triệu Văn S là đúng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con:
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Lò Thị H và anh Triệu Văn S có 02 con chung. Cháu thứ nhất là Triệu Minh A, sinh ngày 13/01/2020; Cháu thứ hai là Triệu Trà M, sinh ngày 11/6/2022. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Kể từ khi anh Triệu Văn S sử dụng ma túy và bị bắt đi cai nghiện ma túy bắt buộc các con đều do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bản thân chị H hiện đang làm công nhân công ty TNHH Đ có thu nhập hàng tháng khoảng 6.000.000đ. Anh Triệu Văn S đang cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu A và cháu M, cần giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì vậy hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản: Chị Lò Thị H và anh Triệu Văn S tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí vụ án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Lò Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn với anh Triệu Văn S. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Chị Lò Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Triệu Minh A, sinh ngày 13/01/2020 và cháu Triệu Trà M, sinh ngày 11/6/2022 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Triệu Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001476 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Lò Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn anh Triệu Văn S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Vĩnh Thái |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA Lò Thị H - Triệu Văn S
