|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HSST Ngày: 28 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Đạt
- Ông Trần Tấn Kiệt
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Thái T
(tên gọi khác: Tỷ) sinh ngày 01 tháng 12 năm 1992 tại huyện K, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ C, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Phạm Mỹ D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 23/3/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Châu Nguyễn Hoàn C, sinh ngày 03/10/2003; địa chỉ: Tổ G, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/12/2003; địa chỉ: Tổ B, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Huỳnh Thanh H, sinh ngày 23/8/1990; địa chỉ: Tổ A, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Lê Thanh L, sinh ngày 03/5/1995; địa chỉ: Tổ B, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Nguyễn Thị Minh T1, sinh ngày 03/6/1970; địa chỉ: Tổ G, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Phạm Văn M, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ C, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 00 phút, ngày 23/3/2024 Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang Châu Nguyễn Hoàn C và Huỳnh Minh K đang cất giữ trái phép chất ma túy tại tổ C, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; đã thu giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất nghi là chất ma túy, niêm phong gửi giám định. Quá trình điều tra ban đầu C khai nhận số ma túy trên là mua của Phạm Thái T, sinh năm 1992, trú tổ C, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang với số tiền 1.000.000 đồng.
Từ kết quả điều tra ban đầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thái T, thu giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy và 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy, niêm phong gửi giám định.
Kết luận giám định các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất nghi là chất ma túy thu giữ của C và K là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5887 gam. Các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy và chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy thu giữ tại chỗ ở của T là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng lần lượt là 1,7290 gam và 0,0192 gam.
Quá trình điều tra T khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 20/3/2024, T đi xe khách xuống thành phố R, tỉnh Kiên Giang để dự tiệc sinh nhật của người bạn, dự sinh nhật xong T đến quán bar (không rõ địa chỉ) uống bia một mình, lúc này có người thanh niên tự giới thiệu tên là B (không rõ nhân thân) đến làm quen với T, đồng thời cho T sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy với B xong, T xin B ma túy thì B cho T 02 bịch (01 bịch nhỏ và 01 bịch lớn), T lấy ma túy cất giấu trong người rồi đem về nhà cất giấu trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/3/2024 C liên lạc với T thông qua mạng xã hội Facebook để mua ma túy, T đồng ý bán cho C 1.000.000 đồng, T nhắn tin số tài khoản của mình cho C, sau đó C chuyển vào tài khoản của T 1.000.000 đồng từ tài khoản tên Huỳnh Thanh H, đồng thời nhắn tin thông báo cho T biết là đã chuyển tiền từ tài khoản tên H. Nhận tiền xong T lấy 01 bịch ma túy nhỏ đổ ra đĩa một ít, phần còn lại đem đến gần cái miếu trước nhà của T và thông báo cho C đến lấy. Sau khi thông báo cho C biết chỗ lấy ma túy thì T đi ngủ, đến khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang khám xét và thu giữ số ma túy còn lại trong phòng ngủ. Quá trình điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang đã thu giữ bao gồm:
- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy được niêm phong gửi giám định.
- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy được niêm phong gửi giám định.
- 01 (một) cái đĩa sứ màu trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) đoạn ống hút được quấn từ tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng.
- 01 (một) thẻ nhựa có ký hiệu SANG NGUYEN, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 14 PRO MAX, màu tím, 128G, đã qua sử dụng.
- Tiền Việt Nam 1.000.000 đồng.
- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy, niêm phong gửi giám định.
- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68S1-518.22 nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu sơn trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 12 PRO, số IMEL 1: 356462528509062, số IMEL 2: 356462528952940, đã qua sử dụng.
(Bút lục số 15, 59A).
* Đối với Vật chứng ở mục số 8 đã được niêm phong gửi đi giám định.
Tại Kết luận giám định số: 273/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K (bút lục số 43) kết luận: các hạt tỉnh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5887 gam.
Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5497 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 282/2024.
* Đối với Vật chứng ở mục số 1 và 2 đã được niêm phong gửi đi giám định. Theo Kết luận giám định số: 274/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K:
Mẫu cần giám định: 01 (một) bì thư màu trắng được niêm phong, có các chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên G; Cán bộ lập biên bản Nguyễn S; Người có đồ vật, tài liệu bị niêm phong Phạm Thái T; Người chứng kiến Lê Nguyễn Anh T2 và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dụng “Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện K, T. K”, bên trong có 01 (một) bịch nylon màu trăng có nẹp gài, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng.
Kết luận về đối tượng giám định: Các hạt tinh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,7290 gam. Chất bột màu trắng chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0192 gam.
Đối với Vật chứng ở mục số 1 và số 2 đã được niêm phong gửi đi giám định. Tại Kết luận giám định số: 274/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K (bút lục số 51) kết luận:
- Các hạt tinh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,7290 gam.
- Chất bột màu trắng chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0192 gam.
Mẫu vật còn lại sau giám định: các hạt tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,6998 gam đựng trong một bịch nylon; chất bột màu trắng đã sử dụng hết cho giám định và hoàn trả bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 283/2024.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy đối với Phạm Thái T.
Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSKL ngày 17/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương đã truy tố bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thái T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 282/2024 ngày 01/4/2024, các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng K1 - Công an tỉnh K, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N và người chứng kiến Hồ Hoàng A.
- 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 283/2024 ngày 01/4/2024, các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng K1 - Công an tỉnh K, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T3 và người chứng kiến Hồ Hoàng A.
- 01 (một) cái đĩa sứ màu trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) thẻ nhựa có ký hiệu SANG NGUYEN, đã qua sử dụng.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- Tiền Việt Nam 1.010.000 đồng đã nộp vào tài khoản của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện K, tỉnh Kiên Giang theo 02 (hai) giấy nộp tiền cùng ngày 13/5/2024 của Ngân hàng N1 - Chi nhánh B1.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 14 PRO MAX, màu tím, 128G, đã qua sử dụng.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang đã trả lại cho chủ sở hữu gồm:
- Trả cho ông Lê Thanh L 01 (một) xe mô tô biển kiểm biển kiểm soát 68S1-518.22 nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu sơn trắng, đã qua sử dụng.
- Trả cho bà Nguyễn Thị Minh T1 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 12 PRO, số IMEL 1: 356462528509062, số IMEL 2: 356462528952940, đã qua sử dụng.
Trách nhiệm dân sự: ông Phạm Văn M nộp thay cho bị cáo Phạm Thái T số tiền thu lợi bất chính là 1.000.000 đồng và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với Châu Nguyễn Hoàn C đã có hành vi tang trữ trái phép chất ma túy nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm và sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với tổng số tiền 5.000.000 đồng.
Đối với Huỳnh Minh K đã có hành vi tang trữ trái phép chất ma túy nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng.
Đối với đối tượng tên B có hành vi cung cấp ma túy cho T để T bán cho người khác sử dụng trái phép, nhưng T không biết gặp B tại khu vực nào trên địa bàn thành phố R, tỉnh Kiên Giang, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang chưa tiến hành xác minh được và tiếp tục tiến hành xác minh khi nào rõ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa:
Bị cáo T không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết luận giám định nêu trên và khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: trong khoảng thời gian bị giữ, bị giam cho đến nay, bị cáo đã thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi sai trái của mình. Kính mong HĐXX xem xét xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm quay về giúp ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào ngày 20/3/2024, tại một quán Bar trên địa bàn thành phố R, tỉnh Kiên Giang, có người thanh niên tự giới thiệu tên là B (không rõ nhân thân) đến làm quen với T, đồng thời cho T sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy với B xong, T xin B ma túy thì B cho T 02 bịch (01 bịch nhỏ và 01 bịch lớn), T lấy ma túy cất giấu trong người rồi đem về nhà cất giấu trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/3/2024 C liên lạc với T thông qua mạng xã hội Facebook để mua ma túy, T đồng ý bán cho C 1.000.000 đồng, T nhắn tin số tài khoản của mình cho C, sau đó C chuyển vào tài khoản của T 1.000.000 đồng từ tài khoản tên Huỳnh Thanh H, đồng thời nhắn tin thông báo cho T biết là đã chuyển tiền từ tài khoản tên H. Nhận tiền xong T lấy 01 bịch ma túy nhỏ đổ ra đĩa một ít, phần còn lại đem đến gần cái miếu trước nhà của T và thông báo cho C đến lấy. Sau khi thông báo cho C biết chỗ lấy ma túy thì T đi ngủ, đến khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang khám xét và thu giữ số ma túy còn lại trong phòng ngủ. Tại bút lục số 146, 147 bị cáo T khai số ma túy còn lại T để dành bán cho C nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện.
Qua kết luận giám định, các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất nghi là chất ma túy thu giữ của C và K là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5887 gam. Các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy và chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy thu giữ tại chỗ ở của T là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng lần lượt là 1,7290 gam và 0,0192 gam. Tổng khối lượng ma túy T đã bán và cất giấu nhằm mục đích mua bán là là 2,3369 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người mua ma túy của bị cáo là Châu Nguyễn Hoàn C và Huỳnh Minh K, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với bản kết luận giám định. Do đó đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “mua bán trái phép chất ma túy” được quy định khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, đủ để nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, xã hội lên án, nhưng chỉ vì lợi ích vật chất từ việc mua bán ma túy mạng lại, bị cáo đã có hành vi mua bán ma túy cho người khác sử dụng và cất giấu ma túy bất hợp pháp nhằm mục đích bán cho người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hành vi của tầng lớp thanh thiếu niên, làm phức tạp thêm tình hình an ninh và trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thể hiện có nhân thân tốt.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS 2015 thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Như vậy, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy: 0,5497 gam Ketamine đựng trong một bịch nylon còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 282/2024 ngày 01/4/2024, các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng K1 - Công an tỉnh K, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N và người chứng kiến Hồ Hoàng A; 1,6998 gam Ketamine đựng trong một bịch nylon còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 283/2024 ngày 01/4/2024, các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng K1 - Công an tỉnh K, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T3 và người chứng kiến Hồ Hoàng A; 01 (một) cái đĩa sứ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa có ký hiệu SANG NGUYEN, đã qua sử dụng.
Toàn bộ vật chứng trên đã thu giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKSKL ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (bút lục số 231).
- Áp dụng b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước do trực tiếp liên quan đến tội phạm gồm: tiền Việt Nam 1.010.000 đồng đã nộp vào tài khoản của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện K, tỉnh Kiên Giang theo 02 (hai) giấy nộp tiền cùng ngày 13/5/2024 của Ngân hàng N1 - Chi nhánh B1 (bút lục số 62, 63);.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 14 PRO MAX, màu tím, 128G, đã qua sử dụng thuộc sở hữu của ông Phạm Văn M (cha ruột bị cáo) nhưng ông M cho bị cáo mượn sử dụng từ giữa tháng 01/2024 và không xác định thời hạn trả lại. Như vậy, vào thời điểm bị cáo sử dụng điện thoại này liên lạc với C để bán ma túy thì nó thuộc phạm vi quản lý, sử dụng của bị cáo. Chiếc điện thoại này là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước do trực tiếp liên quan đến tội phạm.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, ghi nhận việc trả lại vật chứng cho chủ sở hữu do không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang gồm:
- Trả cho ông Lê Thanh L 01 (một) xe mô tô biển kiểm biển kiểm soát 68S1-518.22 nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu sơn trắng, đã qua sử dụng ( đã trả theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 02/4/2024).
- Trả cho bà Nguyễn Thị Minh T1 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 12 PRO, số IMEL 1: 356462528509062, số IMEL 2: 356462528952940, đã qua sử dụng (đã trả theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 02/4/2024).
3. Về trách nhiệm dân sự:
ông Phạm Văn M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với số tiền Ông đã nộp thu lợi bất chính thay cho bị cáo là 1.000.000 đồng và 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 14 PRO MAX, màu tím, 128G mà Ông đã cho bị cáo mượn sử dụng nên HĐXX không xem xét giải quyết. Trường hợp có phát sinh tranh chấp về dân sự thì ông M có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Thái T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T và ông M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tự ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 28/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thái Tín bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng ma túy giám định được là 2,3369 gam, loại Ketamine.
