TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 28/2024/DS-ST
Ngày 28/6/2024
Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Quang Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Kiểm
- Ông Nguyễn Quốc Sửu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Ông Hà Đăng Chương - Kiểm sát viên.
Ngày 28/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2024/TLST-DS ngày 09/01/2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-DS ngày 06/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-DS ngày 24/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng L - Chức vụ: Trưởng phòng KHKD A Chi nhánh huyện T Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn Ư, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 26/12/2023 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện Ngân hàng N trình bày:
Ngày 06/11/2018, ông Trần Văn Ư làm hồ sơ vay vốn tại A Chi nhánh huyện T Bắc Giang số tiền 100.000.000 đồng và được Ngân hàng phê duyệt cho vay số tiền 100.000.000 đồng, phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng tại Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018. Ngày 24/12/2019, ông Ư được A Chi nhánh huyện T giải ngân số tiền 100.000.000 đồng. Ông Ư đã tiền và ký giấy nhận nợ ngày 24/12/2019. Lãi suất cho vay tại thời điểm nhận nợ là 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm, thời hạn vay 36 tháng, phân kỳ trả nợ 12 tháng/kỳ, cụ thể: Ngày 24/12/2020 trả 20.000.000 đồng, ngày 24/12/2021 trả 30.000.000 đồng, ngày 24/12/2022 trả 50.000.000 đồng. mục đích vay để kinh doanh trâu nái, bò nái sinh sản.
Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018 không thỏa thuận tài sản thế chấp nhưng có thỏa thuận tài sản tín chấp vay tiền Ngân hàng là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43, diện tích 724,1m2, địa chỉ thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Chủ sử dụng đất ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T.
Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Bên vay ông Ư không trả được cho Ngân hàng đồng tiền gốc, tiền lãi nào. Tính từ ngày vay 24/12/2019 đến ngày 28/6/2024, ông Ư còn nợ tiền gốc 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 24.929.014 đồng, lãi quá hạn 36.057.575 đồng, lãi chậm trả 8.166.199 đồng; tổng tiền gốc, tiền lãi, lãi chậm trả là 169.152.788 đồng. Do vợ chồng ông Ư vi phạm nghĩa vụ trả nợ và vốn vay là để làm kinh tế gia đình. Do đó, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
Buộc vợ chồng ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T phải chịu trách nhiệm liên đới trả Ngân hàng N tiền nợ gốc, tiền lãi, tiền lãi chậm trả là 169.152.788 đồng.
Ông Ư, bà T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng ngày 07/11/2018 và tại thời điểm ký giấy nhận nợ kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 28/6/2024 cho đến ngày thực tế ông Ư, bà T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
Nếu ông Ư, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý tài sản tín chấp để thu hồi nợ.
* Theo bản tự khai ngày 05/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn Ư trình bày:
Ông thừa nhận có vay của A Chi nhánh huyện T Bắc Giang số tiền 100.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018. Ông đã được Ngân hàng giải ngân số tiền 100.000.000 đồng và ông ký giấy nhận nợ ngày 24/12/2019, thời hạn vay 36 tháng, phân kỳ trả nợ 12 tháng/kỳ, cụ thể ngày 24/12/2020 trả 20.000.000 đồng, ngày 24/12/2021 trả 30.000.000 đồng, ngày 24/12/2022 trả 50.000.000 đồng, lãi suất cho vay 11%/năm, mục đích vay để kinh doanh trâu nái, bò nái sinh sản.
Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018 không thỏa thuận tài sản thế chấp nhưng có thỏa thuận tài sản tín chấp vay tiền Ngân hàng là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43, diện tích 724,1m2, địa chỉ thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Chủ sử dụng đất ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T.
Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Do chăn nuôi bị thua lỗ, kinh tế gia đình gặp khó khăn nên đến nay ông chưa trả được cho Ngân hàng đồng tiền gốc, tiền lãi nào. Do ông vị phạm nghĩa vụ trả tiền theo cam kết trong Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018. Do đó, Nay Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông phải chịu trách nhiệm liên đới trả Ngân hàng tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi như bản kê tính lãi của Ngân hàng thì ông hoàn toàn đồng ý. Tuy nhiên do kinh tế gia đình gặp khó khăn nên ông xin Ngân hàng cho vợ chồng ông trả bằng nhiều lần cho đến khi trả xong tiền nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị đơn ông Ư và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T vắng mặt không có lý do.
Đại diện nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông Ư, bà T phải chịu trách nhiệm liên đới trả Ngân hàng tính đến ngày 28/6/2024 tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 24.929.014 đồng, lãi quá hạn 36.057.575 đồng, lãi chậm trả 8.166.199 đồng. Tổng số tiền là 169.152.788 đồng.
Ông Ư, bà T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng ngày 07/11/2018 và tại thời điểm ký giấy nhận nợ kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 28/6/2024 cho đến ngày thực tế ông Ư, bà T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
Đại diện nguyên đơn xin rút yêu cầu xử lý tài sản đã tín chấp là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43, diện tích 724,1m2, địa chỉ thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Chủ sử dụng đất ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T.
Phát biểu của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đại diện nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Ư, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà T chưa chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề xuất: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Các Điều 117, 288, 357, 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc vợ chồng ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T trả Ngân hàng nông nghiệp và P trên nông thôn Việt Nam tính đến ngày 28/6/2024 số tiền 169.152.788 đồng, trong đó tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền nợ lãi 69.152.788 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 28/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi suất.
2. Đình chỉ yêu cầu xử lý tài sản tín chấp là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43 và tài sản gắn liền với đất tại thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang tên chủ sử dụng đất ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T. Ngân hàng N có trách nhiệm trả ông Trần Văn Ư các giấy tờ về quyền sử dụng đất sau khi ông Ư, bà T đã trả hết cho Ngân hàng tiền nợ gốc, tiền lãi.
- Về án phí: Ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đương sự, kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Ư, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tòa án xét xử vắng mặt ông Ư, bà T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng N khởi kiện bị đơn ông Ư về vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018. Ông Ư không có giấy phép kinh doanh nên xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Ư có hộ khẩu thường trú tại thôn B, tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, do đó Tòa án huyện T thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thừa nhận có giao kết Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018. Tại thời điểm giao kết Hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết tự nguyện, mục đích không trái pháp luật, đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 117, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, có căn cứ để xác định Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018 có hiệu lực thi hành đối với các bên giao kết. Bên vay ông Ư đã được Ngân hàng giải ngân số tiền 100.000.000 đồng, ông Ư đã nhận tiền và ký giấy nhận nợ ngày 24/12/2019.
Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Ông Ư, bà T chưa trả được Ngân hàng đồng tiền gốc, tiền lãi nào. Như vậy ông Ư, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 5 Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018 và Mục 8 của giấy nhận nợ ngày 24/12/2019. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Ư, bà T phải chịu trách nhiệm liên đới trả Ngân hàng số tiền nợ gốc, tiền lãi 169.152.788 đồng, là có căn cứ.
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Ư, bà T phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 28/6/2024:
Về nợ gốc: Bị đơn ông Ư thừa nhận nợ gốc Ngân hàng là 100.000.000 đồng, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, nên được chấp nhận.
Về nợ lãi: Hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận lãi suất vay 11%/năm, lãi quá hạn bằng 150%, lãi chậm trả 10%/năm. Hội đồng xét xử thấy: Việc thỏa thuận về lãi nêu trên phù hợp với các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 468 Bộ luật dân sự. Ngân hàng tính lãi theo từng mốc thời gian cụ thể xác định bên vay còn nợ 69.152.788 đồng. Cách tính lãi của Ngân hàng N với lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
Về nghĩa vụ trả nợ: Tại thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng số 2506-LAV-201805004 ngày 07/11/2018, bà T có ủy quyền cho ông Ư theo giấy ủy quyền ngày 06/11/2018, để cho ông Ư thay mặt bà T thực hiện các giao dịch vay vốn Ngân hàng. Mục đích số tiền vay để chăn nuôi vì lợi ích chung của vợ chồng. Do đó có căn cứ xác định vợ chồng ông Ư, bà T phải có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ trả Ngân hàng N tiền vay gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi 69.152.788 đồng. Tổng tiền gốc, tiền lãi là 169.152.788 đồng. theo quy định tại các Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình và các Điều 288, 466 Bộ luật dân sự.
[3.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản tín chấp: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xin rút yêu cầu xử lý tài sản tín chấp là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43, diện tích 724,1m2, địa chỉ thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Chủ sử dụng đất ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T, nên cần đình chỉ yêu cầu này theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về án phí: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn ông Ư, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà T phải chịu án phí theo Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Án phí được tính 169.152.788 x 5% = 8.457.639 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng N tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271,273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Các Điều 117, 288, 357, 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc vợ chồng ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T trả Ngân hàng nông nghiệp và P trên nông thôn Việt Nam tính đến ngày 28/6/2024 số tiền 169.152.788 đồng (một trăm sáu chín triệu, một trăm năm hai nghìn, bẩy trăm tám tám đồng), trong đó tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), tiền nợ lãi 69.152.788 đồng (sáu chín triệu, một trăm năm hai nghìn, bẩy trăm tám tám đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 28/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi suất.
- Đình chỉ yêu cầu xử lý tài sản tín chấp là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43 và tài sản gắn liền với đất tại thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang tên chủ sử dụng đất ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T. Ngân hàng N có trách nhiệm trả ông Trần Văn Ư các giấy tờ về quyền sử dụng đất sau khi ông Ư, bà T đã trả hết cho Ngân hàng tiền nợ gốc, tiền lãi.
- Về án phí: Ông Trần Văn Ư, bà Dương Thị T phải chịu 8.457.639 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 3.786.00 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006657 ngày 08/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự. có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Giáp Quang Huy |
Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 28/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng NN tranh chấp hợp đồng tín dụng với anh Ư
