TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 28/06/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường.
Ông Vũ Đức Lâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 06 năm 2024 đối với:
Bị cáo Phạm Trung A - Sinh năm 1998 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm K và bà Hoàng Thị H; gia đình có 2 người con bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/03/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phạm Đức T - sinh năm:1962 (đã chết)
Đại diện bị hại: Bà Đoàn Thị L – sinh năm: 1967 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ:Thôn G, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1965. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, sau khi đổ đất tại đoạn đường ven biển thuộc thôn C B, xã H, huyện H, Phạm Trung A (có giấy phép lái xe tô tô hạng C, số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp ngày 13 tháng 12 năm 2021), điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 đi trên đoạn đường ven biển đang thi công thuộc thôn C B, xã H, huyện H theo hướng Tây sang Đ. Khi xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 đi đến vị trí gần mép lề đường bên phải đường thuộc thôn C B, xã H, huyện H (tại vị trí đoạn giao nhau trên phần đường nhựa đường liên thôn, giữa đường ven biển đang thi công với đường liên thôn), Phạm Trung A điều khiển xe ô tô sang bên trái rồi đi thẳng tiếp sang đoạn đường đang làm phía Đông, cùng lúc này ông Phạm Đức T (sinh năm: 1962, trú tại thôn G, xã P, huyện H) đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607 đi ở phần đường bên phải đường liên thôn (theo hướng Bắc - N) đi tới. Do nghĩ khoảng cách giữa hai phương tiện đủ để không xảy ra va chạm nên Phạm Trung A vẫn giữ tốc độ, tiếp tục điều khiển xe ô tô đánh lái sang bên trái để tiếp tục đi thẳng sang đoạn đường phía Đông đường ven biển đang thi công. Tuy nhiên, khi vừa điều khiển xe đi vào đoạn đường giao nhau, do khoảng cách gần nên Phạm Trung A không kịp xử lý dẫn đến mặt trước ba - đờ - xốc trước xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 va chạm với mặt trước ngoài đầu mút tay phanh bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607 và mặt trước đầu xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 va chạm với vùng trán phải, vai phải ông Phạm Đức T. Sau đó, ông Phạm Đức T bị văng ra nằm trên mặt đường, còn Phạm Trung A điều khiển xe ô tô đi tiếp một đoạn về phía Đ và dừng xe. Sau đó, ông Phạm Đức T được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng do bị thương nặng nên đã tử vong tại gia đình và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607 bị hư hỏng nặng .
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
Hiện trường đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được xác định tại khu vực ngã tư giao giữa đường liên thôn thuộc địa phận thôn C B, xã H, huyện H với đường ven biển (đoạn qua huyện H) đang thi công, đường liên thôn là đường thẳng, mặt đường rộng 400 cm được rải nhựa tương đối bằng phẳng; đường ven biển đang thi công hiện là đường đất, khoảng mở phía đông của ngã tư rộng 2150 cm. Khoảng mở phía tây của ngã tư rộng 1650 cm, tại góc phía tây bắc của ngã tư là công ty M, các góc đông bắc, đông nam và tây nam là đồng ruộng. Hướng phía bắc thuộc đường liên thôn là hướng đi ngã tư B, hướng phía Nam thuộc đường liên thôn là hướng đi đê sông T. Trên lề phía Tây trước công ty M1 có biển báo khu vực công trường đang thi công hướng vào đường ven biển. Lấy cột điện ký hiệu GBTD PC1254 ở góc phía đông bắc ngã tư làm mốc và mép đường phía đông của đường liên thôn làm vật chuẩn. Cách mốc 1450 cm về phía Tây Nam là đầu (1) là vết tỳ trượt liên tục kích thước 50 cm x 16 cm vết có chiều Tây Nam sang Đ, đo đầu vết và cuối vết vào vật chuẩn lần lượt là 150 cm x 104 bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng nhựa, cao su).
Cách cuối (1) 17 cm về phía đông bắc là đầu (2) là hệ thống các vết cà trượt không liên tục trong diện 270 cm x 69 cm, vết lớn nhất rộng 5,5 cm, vết nhỏ nhất rộng 01 cm, các vết có chiều từ tây nam sang đông bắc. Đo đầu vết vào vật chuẩn là 145 cm, đo cuối vết ra mép đường làm chuẩn là 110 cm. Cuối vết ngay giá để chân trước bên trái và bàn cần số bên trái xe mô tô (3).
(3) là xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607 nằm đổ nghiêng bên trái trên nền đất của đường ven biển. Đầu xe quay hướng tây nam, đuôi xe quay hướng đông bắc. Đo tâm trục trước, tâm trục sau xe vào vật chuẩn lần lượt là 88 cm và 134 cm. Cách tâm trục trước (3) 204 cm về phía đông nam là (4).
(4) là vết màu nâu đỏ (nghi máu) trong diện (11 x 11) cm. Đo tâm vết vào vật chuẩn là 304 cm. Chính giữa đường vào nhánh đường ven biển phía đông có cắm hai cọc và căng dây chắn chính giữa, phía nam đường có các gò đất cao.
* Tại bản kết luận giám định số 891/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước ba - đờ - xốc trước cách thành xe bên trái 130 cm xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 với mặt trước ngoài đầu mút tay phanh bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607.
Tại thời điểm va chạm xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 có hướng chuyển động gần vuông góc, từ phải sang trái so với chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607.
Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết tì trượt (1) và hệ thống vết cà (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực giao nhau giữa đường liên thôn thuộc thôn C B, xã H với đường ven biển đang xây dựng.
Dấu vết tại mặt trước đầu xe cách thành xe bên trái 115 cm xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60 tương ứng phù hợp do va chạm với vùng trán phải, vai phải nạn nhân Phạm Đức T tạo nên .
* Tại bản kết luận giám định số 799/KLGĐTT-PC09 ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Phạm Đức T là do Đ1 chấn thương .
* Tại bản kết luận giám định số 859/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu máu của Phạm Trung A (sinh năm: 1998, trú tại thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) niêm phong gửi giám định không có cồn .
* Tại bản kết luận giám định số 711/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy loại: MDA, MDMA, ketamine, A1, Methamphetamine trong nước tiểu ghi thu của Phạm Trung A gửi đến giám định .
Về vật chứng của vụ án: Đối với giấy phép lái xe tô tô hạng C, số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp ngày 13 tháng 12 năm 2021 cấp mang tên Phạm Trung A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển theo hồ sơ vụ án .
Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 20C - 194.60; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 20C-194.60; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật xe ô tô BKS 20C -194.60 là tài sản hợp pháp của anh Lê Quang C (sinh năm: 1983, trú tại khu E, Phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M5 - 9607 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Đức T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho đại diện hợp pháp của chủ sở hữu
Về trách nhiệm dân sự: Bị can Phạm Trung Anh đã bồi thường cho đại diện gia đình ông Phạm Đức T tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 35/CT-VKSHL ngày 18/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Trung A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên, sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Trung A phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cho đại diện của bị hại và đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp ngày 13/12/2021 cho bị cáo Phạm Trung A khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Phạm Trung A có giấy phép lại xe Ôtô hạng C theo quy định, bản thân bị cáo được trang bị kiến thức giao thông, tuy nhiên vào khỏag 10 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, Phạm Trung A điều khiển xe ô tô tải BKS 20C – 194.60 đi trên đoạn đường ven biển đang thi công thuộc thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo hướng Tây sang Đ. Khi đi đến vị trí gần mép lề đường bên phải đường thuộc thôn C B, xã H, huyện H (tại vị trí đoạn giao nhau trên phần đường nhựa đường liên thôn, giữa đường ven biển đang thi công với đường liên thôn), Phạm Trung A điều khiển xe ô tô sang bên trái rồi đi thẳng tiếp sang đoạn đường phía Đông. Nhưng do không làm chủ tốc độ nên đã đâm va vào ông Phạm Đức T đang điều khiển xe mô tô BKS 36M5 – 9607 đi ở phần đường bên phải đườn liên thôn (theo hướng Bắc – Nam) làm ông T chết. Tại bản kết luận giám định số 799/KLGĐTT-PC09 ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Phạm Đức T là do đa chấn thương. Do đó, đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Trung A đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 và khoản 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/08/2019 của Bộ G.
Như vậy, hành vi của Phạm Trung A đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy: Là người điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ nhưng bị cáo cẩu thả, không chấp hành khi lái xe đi vào đoạn đường giao nhau, bị cáo cũng không bật tín hiệu xin đường và cũng không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô, do khoảng cách gần nên xe ô tô đã đâm va vào ông Phạm Đức T đang điều khiển xe mô tô đi ở phần đường bên phải đường liên thôn, làm ông T chết do đa chấn thương.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn xã hội về sức khỏe, tính mạng của người khác, nên cần xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: HĐXX nhận thấy trong vụ án, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
[5] Về hình phạt: Từ những nhận định nêu trên, Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 260 đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Trung A đã tự nguyện bồi thường các khoản tiền cho gia đình bị hại gồm: tiền thuốc, chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần, tiền công người chăm sóc, tiền thu nhập thực tế bị mất, tiền hư hỏng phương tiện, tiền mai táng phí.. với số tiền 150.000.000đ( Một trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6] Về vật chứng: Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp ngày 13/12/2021 mang tên Phạm Trung A, do không cấm hành nghề nên trả lại cho bị cáo Phạm Trung A khi bản án có hiệu lực pháp luật
[7] Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX giảm hình phạt cho bị cáo; đối với đại diện bị hại đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 62 BLTTHS; người làm chứng: lời khai, lời trình bày có trong hồ sơ vụ án là phù hợp và trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan về tội phạm, về vụ án và cam đoan không khai báo gian dối.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trung A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Trung A 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại cho bị cáo Phạm Trung A 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp ngày 13/12/2021 mang tên Phạm Trung A có trong hồ sơ vụ án (bút lục 190), kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Phạm Trung A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bán án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: THẨM
tòa
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tạ Văn Tuyển |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
