|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 28/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Nguyễn Hữu Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Dương Đình T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/11/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C2 cấp; Nơi ĐKNKTT: 1 C, phường P, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chỗ ở hiện tại: Lô B Khu tái định cư P, phường P, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương H (sinh năm 1967) và bà Trần Thị Diệu T1 (sinh năm 1968); Gia đình có 05 người, bị can là con thứ năm trong gia đình; Vợ con: chưa có; Tiền án: Không. Tiền sự: 01 tiền sự (Quyết định số: 961/QĐ-UBND).
Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, không học văn hoá. Lớn lên, sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội (ngày 12/9/2023).
-Ngày 29/4/2018, bị UBND phường P, TP H, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “ Cướp giật tài sản” (Quyết định số: 02/QĐ-UBND).
-Ngày 05/10/2023, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện P khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú về tội “Trộm cắp tài sản”. (Quyết định KTBC số: 40/QĐ-KTBC).
Ngày 08/11/2023, bị UBND phường P, TP H, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số: 961/QĐ-UBND).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
2. Trần Văn H1, tên gọi khác: Không, sinh ngày 09/8/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] do Cục C3 về TTXH- bộ C2 cấp; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Phòng 310 Nhà E, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2 (sinh năm 1975) và bà Trần Thị L (sinh năm 1975); Có 07 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không. Tiền sự: 01 tiền sự (Quyết định số: 0005997/QĐ-XPHC)
Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, học văn hoá đến lớp 5 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình. Sau đó, sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội (ngày 12/9/2023).
-Ngày 26/7/2023, bị Công an T, xử phạt số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”(Quyết định số: 0005997/QĐ-XPHC).
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 23/01/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
- + Anh Lê Viết L1, sinh năm: 1993; Địa chỉ: B L, phường I, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- + Anh Lê Viết T3, sinh năm: 197; Địa chỉ: B đường B, khu V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Ông Lê Viết C, sinh năm: 1955; Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- + Ông Lê Viết T4, sinh năm: 1961; Địa chỉ: B đường B, khu V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Trần Thị L, sinh năm: 1975; Địa chỉ: P Nhà E, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Anh Bùi Văn C1, sinh năm: 1989; Địa chỉ: A N, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 11/9/2023, Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, chưa có BKS (xe của bà Trần Thị L, mẹ ruột H1), đến nhà Dương Đình T chơi. Tại đây, T rủ H1 đi trộm cắp tài sản thì H1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô trên chở H1 đi về phường T, thị xã H, để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/9/2023, khi đi qua nhà số B Đ, tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nhà của ông Lê Viết L2, sinh năm 1968); thì cả 02 phát hiện nhà không có cổng, trong nhà không đóng cửa và có nhiều người đang nằm ngủ nên T dừng xe lại để cảnh giới còn H1 đột nhập vào trong nhà lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S8 màu bạc (bị vỡ màn hình trước và sau), của anh Lê Viết L1, sinh năm 1993, trú tại B Đ, tổ A, phường T, thị xã H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3, màu xanh của anh Lê Viết T3, sinh năm 1997, trú tại B đường B khu V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S màu vàng và số tiền 300.000 đồng (để trong ba lô), của ông Lê Viết C, sinh năm 1955, trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, cả 02 tẩu thoát, số tiền chiếm đoạt được T và H1 chia nhau mỗi người 150.000 đồng còn 03 điện thoại di động thì T cất giữ.
Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, H1 và T đem 03 điện thoại di động nói trên đến tiệm điện thoại của anh Bùi Văn C1, sinh năm 1989, trú tại B đường Đ, phường Đ, thành phố H, bán lấy số tiền 300.000 đồng, rồi chia nhau tiêu xài.
Tại Cơ quan điều tra, T và H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, chưa có BKS, cùng chìa khoá xe; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng đã bị hư hỏng, không có pin, không có nắp lưng, số IMEI 1: 358131096811402, số IMEI 2: 358132096811400; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, tình trạng không lên nguồn, số IMEI 1: 357648101065683, số IMEI 2: 357649101065681; 01 xác điện thoại di động không rõ nhãn hiệu.
Hiện xe mô tô nói trên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 95 ngày 03/11/2023, của Hội đồng định giá UBND thị xã H, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S8, màu bạc, bị vỡ màn hình trước và sau, có giá trị là 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng chẵn).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 04 ngày 05/01/2024, của Hội đồng định giá UBND thị xã H, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A4, màu vàng, có giá trị là 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng chẵn).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 09 ngày 10/01/2024, của Hội đồng định giá UBND thị xã H, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3, màu xanh, có giá trị là 800.000 đồng (T5 trăm ngàn đồng chẵn).
Tổng giá trị tài sản điện thoại bị chiếm đoạt là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng chẵn).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Viết L1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại về điện thoại di động bị mất trộm nhưng đến nay các bị cáo chưa bồi thường; các bị hại còn lại đều không yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự;
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-HTh ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Dương Đình T từ 9 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 06 (sáu) tháng tù của bản án hình sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình phạt chung bị cáo Dương Đình T phải chịu là: từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn H1 từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đối với các điện thoại đã thu giữ của anh Bùi Văn C1, do anh Bùi Văn C1 không có yêu cầu các bị cáo phải đền bù số tiền mình đã mua điện thoại nên không xử lý. Các xác điện thoại này vẫn có giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng đã bị hư hỏng, không có pin, không có nắp lưng, số IMEI 1: 358131096811402, số IMEI 2: 358132096811400; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, tình trạng không lên nguồn, số IMEI 1: 357648101065683, số IMEI 2: 357649101065681; 01 xác điện thoại di động không rõ nhãn hiệu; Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đã có cơ sở kết luận: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/9/2023, tại B Đ, Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Dương Đình T và Trần Văn H1 đã có hành vi trộm cắp tài sản gồm: của anh Lê Viết L1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S8, màu bạc, bị vỡ màn hình trước và sau, có giá trị là 700.000 đồng; của anh Lê Viết T3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3, màu xanh, có giá trị là 800.000 đồng; của ông Lê Viết C, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A4, màu vàng, có giá trị là 700.000 đồng và số tiền 300.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản các bị can đã chiếm đoạt là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng chẵn) nên hành vi của các bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam nên các bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.
Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ với nhau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét cũng cần phải xem xét đánh giá đến mức độ và hành vi phạm tội của mỗi bị cáo đã gây ra nhằm áp dụng đúng mức hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án, cụ thể:
Bị cáo Dương Đình T là người trực tiếp rủ rê H1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Trần Văn H1 là người tiếp nhận lời rủ rê của T thì H1 đã lấy xe của mẹ ruột để T chở đi trộm cắp tài sản, sau đó H1 là người trực tiếp đột nhập vào trong nhà lấy trộm tài sản. Do vậy vai trò của các bị cáo là ngang nhau.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
Các bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 đều có nhân thân xấu, Dương Đình T vào Ngày 29/4/2018, bị UBND phường P, TP H, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “ Cướp giật tài sản”; Ngày 08/11/2023, bị UBND phường P, TP H, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số: 961/QĐ-UBND). Bị cáo Trần Văn H1 vào Ngày 26/7/2023, bị Công an T, xử phạt số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”(Quyết định số: 0005997/QĐ-XPHC).
Bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 đã Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; được quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đây là vụ án có đồng phạm; trong đó, Dương Đình T và Trần Văn H1 đều cùng nhau thực hiện hành vi phạm tôi. Do đó, bị cáo T và bị cáo H1 phải chịu mức hình phạt ngang nhau.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm. Vì vậy, cần có mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung. Các bị cáo hiện không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với anh Bùi Văn C1 không biết điện thoại mình đã mua là do T và H1 phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với bà Trần Thị L không biết việc H1 sử dụng xe mô tô của mình để làm phương tiện phạm tội nên không xem xét xử lý.
Đối với ông Lê Viết T4, đã có đơn trình báo vào tối ngày 11/9/2023, tại nhà ông Lê Viết L2, ông T4 cũng bị mất trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, loại 64GB, màu vàng. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có cơ sở để kết luận nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Viết L1 yêu cầu các bị caó phải bồi thường thiệt hại về điện thoại di động bị mất trộm nhưng đến nay các bị caó chưa bồi thường; Nên cần buộc các bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1, mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Viết Lữ ½ giá trị của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S8, màu bạc, bị vỡ màn hình trước và sau là 350.000 đồng. Các bị hại còn lại đều không yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với các điện thoại đã thu giữ của anh Bùi Văn C1, do anh Bùi Văn C1 không có yêu cầu các bị cáo phải đền bù số tiền mình đã mua điện thoại nên không xử lý. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng đã bị hư hỏng. không có pin, không có nắp lưng, số IMEI 1: 358131096811402, số IMEI 2: 358132096811400; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, tình trạng không lên nguồn, số IMEI 1: 357648101065683, số IMEI 2: 357649101065681. 01 xác điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, đây là các tài sản còn giá trị sử dụng nên cầu tịch thu sung công quỹ nhà nước.
[8] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Đình T và Trần Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dương Đình T và bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, i, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt: Bị cáo Dương Đình T 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 06 (sáu) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 về tội “ Trộm cắp tài sản” của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình phạt chung bị cáo Dương Đình T phải chịu là: 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/01/2024.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H1 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/01/2024
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng đã bị hư hỏng. không có pin, không có nắp lưng, số IMEI 1: 358131096811402, số IMEI 2: 358132096811400; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, tình trạng không lên nguồn, số IMEI 1: 357648101065683, số IMEI 2: 357649101065681. - 01 xác điện thoại di động không rõ nhãn hiệu.
Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015,
Buộc bị cáo Dương Đình T phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Lê Viết L1 số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Buộc bị cáo Trần Văn H1 phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Lê Viết L1 số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Đình T và bị cáo Trần Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Đình T và bị cáo Trần Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Đình T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/11/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT: 1 C, phường P, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chỗ ở hiện tại: Lô B Khu tái định cư P, phường P, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế
