TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM Bản án số: 28/2024/HSST Ngày: 28/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Thiện và bà Trần Thị Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 05 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số: 01/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Tiến M (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 20 tháng 12 năm 1971; Tại tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Làm nông; Nơi cư trú: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Chỗ ở hiện nay: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Con ông: Nguyễn Tiến N; Sinh năm: 1939 (Đã chết); Con bà: Lê Thị B; Sinh năm: 1941 (Đã chết); bị cáo có vợ là: Phạm Thị Đ; Sinh năm: 1979; Nghề nghiệp: Làm nông; Con: Nguyễn Thị Thùy D; Sinh năm: 1996; Nghề nghiệp: Dược sĩ; Con: Nguyễn Văn D1; Sinh năm: 2002; Nghề nghiệp: Đầu bếp; Con: Nguyễn Phạm Bảo H; Sinh năm: 2013; Nghề nghiệp: Học sinh.
Tiền sự: Không (Ngày 04/01/2017, Công an thị trấn Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Chấp hành việc nộp phạt ngày 10/01/2017); Ngày 22/10/2021, bị Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Chấp hành việc nộp phạt ngày 28/10/2021); Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Lê Sĩ B1 (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1966; tại: tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Trình độ học vấn: 03/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Sĩ V; Sinh năm: 1934 (Đã chết); Con bà: Lê Thị C; Sinh năm: 1934 (Đã chết); Bị cáo có vợ là: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Làm nông; Con: Lê Sĩ Q; Sinh năm: 2002; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con: Lê Thị L; Sinh năm: 2008; Nghề nghiệp: Học sinh.
Tiền sự: Không (Ngày 22/10/2021, bị Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Chấp hành việc nộp phạt ngày 28/10/2021); Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Trần Văn T1: (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 22 tháng 9 năm 1990; tại: tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Côn ông: Trần Văn T2; Sinh năm: 1967; Nghề nghiệp: Làm nông; Con bà: Lê Thị B2; Sinh năm: 1971; Nghề nghiệp: Làm nông; Bị cáo có vợ là: Ngô Thị Thu H1; Sinh năm: 1990; Nghề nghiệp: Làm nông; Con: Trần Ngô Việt C1; Sinh năm: 2015; Nghề nghiệp: Học sinh; Con: Trần Bảo L1; Sinh năm: 2018; Nghề nghiệp: Học sinh.
Tiền sự: Không (Ngày 04/8/2015, Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Chấp hành việc nộp phạt ngày 17/8/2015); Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Lê Ngọc T3 (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1975; tại: tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: TDP G, thị trấn Đ, huyện Đ, Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: TDP G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Chức vụ: Không; Con ông: Lê Hồng N1; Sinh năm: 1952 (Đã chết); Con bà: Hoàng Thị C2; Sinh năm: 1952; Nghề nghiệp: Làm nông; Bị cáo có vợ là: Nguyễn Thị L2; Sinh năm: 1980; Nghề nghiệp: Làm nông; Con: Lê Thị Thu T4; Sinh năm: 2001; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con: Lê Thị Mai H2; Sinh năm: 2007; Nghề nghiệp: Học sinh; Con: Lê Ngọc Anh T5; Sinh năm: 2009; Nghề nghiệp: Học sinh.
Tiền sự: Không (Ngày 08/3/2016, Công an thị trấn Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Chấp hành việc nộp phạt ngày 08/3/2016); Ngày 26/4/2018, Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Hiện không thu thập được Quyết định xử phạt và biên lai nộp phạt. Qua làm việc, bị can T3 thừa nhận năm 2018 có hành vi đánh bạc bị Công an huyện Đ bắt và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; đã chấp hành xong việc nộp phạt. Do thời gian đã lâu không còn giữ biên lai nộp phạt. Tính đến ngày 26/01/2024 đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó bị can T3 được xác định đã xóa tiền sự); Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lê Thị Hoài T6; Sinh năm: 1966; Nơi cư trú: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết từ trước, sáng ngày 26/01/2024, trong lúc uống cà phê tại quán “Diễm” tại TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Lê Ngọc T3 và Trần Văn T1 rủ nhau đánh bài phỏm ăn tiền và hẹn 13h30 cùng ngày có mặt tại nhà bà Lê Thị Hoài T6 (sinh năm 1966; trú tại TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; bà T6 là mẹ vợ của T1) đánh bạc. Đến khoảng 13h30 cùng ngày, M, T1, T3 và B1 đến nhà bà T6 xin bà T6 cho sử dụng phòng khách làm địa điểm đánh bạc thì được bà T6 đồng ý. Lúc này, M lấy 01 bộ bài “T1 Lơ Khơ” 52 lá có sẵn ở tủ tivi tại phòng khách rồi các bị cáo đánh bạc dưới hình thức đánh “Bài Phỏm” thắng thua bằng tiền, số tiền cược mỗi ván từ 50.000 đồng (Năm mươi ngàn đồng) đến 250.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng). Quá trình các bị cáo đánh bạc thì bà T6 ngồi xem. Đến khoảng 15h30 cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) bộ bài “T1 Lơ Khơ” 52 lá đã qua sử dụng và số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra đã xác định được như sau:
- Bị cáo Nguyễn Tiến M mang theo và sử dụng số tiền 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi ngàn đồng) để đánh bạc dưới hình thức “Bài Phỏm” thắng thua bằng tiền với Lê Ngọc T3, Lê Sĩ B1, Trần Văn T1. Khi bị bắt, M thua số tiền 800.000 đồng (Tám trăm ngàn đồng), thu giữ tại vị trí trước chỗ ngồi của M số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng).
- Bị cáo Lê Ngọc T3 mang theo và sử dụng số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng) để đánh bạc dưới hình thức “Bài Phỏm” thắng thua bằng tiền với Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Trần Văn T1. Khi bị bắt, T3 thắng số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), thu giữ trong túi áo trước bên trái số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
- Bị cáo Lê Sĩ B1 mang theo và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để đánh bạc dưới hình thức “Bài Phỏm” thắng thua bằng tiền với Nguyễn Tiến M, Lê Ngọc T3, Trần Văn T1. Khi bị bắt, B1 thắng số tiền 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), thu giữ trong túi áo trước bên trái số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
- Bị cáo Trần Văn T1 mang theo và sử dụng số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng) để đánh bạc dưới hình thức “Bài Phỏm” thắng thua bằng tiền với Nguyễn Tiến M, Lê Ngọc T3, Lê Sĩ B1. Khi bị bắt, T1 thua số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi ngàn đồng), thu giữ tại vị trí trước chỗ ngồi của T1 số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Ngọc T3, Lê Sĩ B1 và Trần Văn T1 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Hình thức đánh bạc và cách thức tính thắng thua như sau: Người chơi dùng bộ bài tú lơ khơ 52 lá chia đều cho mỗi người tham gia đánh bạc 09 lá bài, riêng người cầm cái đánh trước và được chia 10 lá bài, số bài còn lại được để giữa chiếu bạc (gọi là nọc) cho người chơi bọt; người đánh trước sẽ lựa chọn 01 lá bài để đánh ra, người chơi tiếp theo có thể ăn lá bài này nếu lá bài này kết hợp với các lá bài cầm trên tay tạo thành phỏm (phỏm gồm có 2 loại: “phỏm ngang” tức là có từ 3 đến 4 lá bài cùng số, “phỏm dọc” tức là có từ 3 hay nhiều lá bài cùng chất liên tiếp nhau) nếu không ăn lá bài này thì người chơi phải bọt 01 lá bài từ nọc, sau khi ăn lá bài hoặc bọt bài thì người chơi phải đánh ra 01 lá bài và cứ lần lượt như vậy cho đến khi hết số bài trên nọc. Tuy nhiên, ván bài có thể kết thúc sớm nếu một trong số những người chơi “ù” (ù là trường hợp 09 lá bài đều có phỏm); khi có người ù thì mỗi người chơi phải chung cho người ù số tiền 250.000 đồng. Nếu không có người ù thì ván bài sẽ kết thúc sau 4 lượt đánh. Tại lượt đánh cuối, người chơi hạ các lá bài trong phỏm của mình xuống và tính điểm của những lá bài còn lại (các lá bài không tạo thành phỏm). Người chơi nào có phỏm và có số điểm thấp nhất được xác định về nhất, người chơi có phỏm và điểm thấp thứ hai được xác định về thứ hai, tượng tự người có phỏm và có số điểm cao nhất hoặc cháy (cháy là trường hợp người chơi không có phỏm) được xác định là người về chót. Đối với những người chơi có cùng số điểm thì người hạ bài trước là người thắng. Điểm của các lá bài có chữ số thì số điểm tương ứng với số trên lá bài, đối với các lá bài J, Q, K thì điểm tương ứng lần lượt là 11, 12, 13 điểm, lá bài A (át) được tính là 01 điểm. Khi tính điểm, người có điểm thấp nhất là người thắng và những người chơi còn lại phải chung tiền cho người thắng trong đó người có điểm thấp nhì phải chung 50.000 đồng, người có điểm thấp ba phải chung 100.000 đồng, người có điểm cao nhất (về chót) phải chung 150.000 đồng, trường hợp cháy phải chung 200.000 đồng.
* Về vật chứng vụ án:
- 01 (Một) bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá;
- Tiền Việt Nam 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
* Về nguồn gốc đồ vật tạm giữ, quá trình điều tra xác định:
- 01 (Một) bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá là tài sản của bà Lê Thị Hoài T6, được bà T6 mua trước đó và để tại vị trí trên tủ tivi trong phòng khách của gia đình bà T6. Ngày 26/01/2024, các bị can tự ý lấy làm công cụ thực hiện hành vi đánh bạc.
- Đối với số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng), bao gồm: 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) thu giữ trên chiếu bạc và 4.650.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ trên người bị can Lê Ngọc T3, Lê Sĩ B1 đều được sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Cáo trạng số 21/CT-VKSĐH ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Trần Văn T1 và Lê Ngọc T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho các bị cáo theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Trần Văn T1 và Lê Ngọc T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Trần Văn T1 và Lê Ngọc T3 mức án cho mỗi bị cáo từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ (tính từ ngày thi hành án) và được trừ 06 ngày tạm giữ (từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024; tương đương với 18 ngày cải tạo không giam giữ).
- Căn cứ Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung với mức tiền phạt mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung cáo trạng truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai và hối hận về hành vi của mình đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi các bị cáo bị truy tố: Trên cơ sở lời khai của các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định:
Vào khoảng 13h30 ngày 26/01/2024, Nguyễn Tiến M, Lê Ngọc T3, Trần Văn T1 và Lê Sĩ B1 đến nhà bà Lê Thị Hoài T6 tại tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum xin sử dụng phòng khách nhà bà T6 làm địa điểm đánh bạc thì được bà T6 đồng ý. Sau đó, các bị cáo lấy 01 bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá có sẵn trên tủ tivi tại phòng khách nhà bà T6 đánh bạc bằng hình thức “Bài Phỏm” thắng thua bằng tiền, với số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng). Đến khoảng 15h30 cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Ngọc T3, Trần Văn T1 và Lê Sĩ B1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Các bị cáo có đủ năng lực, nhận thức để biết hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Nhưng vì ham muốn đỏ đen nên các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mình đã gây ra.
Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, tuy các bị cáo không có sự bàn bạc trước, nhưng cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi phạm tội.
[4]. Về nhân thân: Trước khi phạm tội, các bị cáo Lê Ngọc T3, Lê Sĩ B1, Nguyễn Tiến M và Trần Văn T1 đều có tiền sự về hành vi “Đánh bạc”. Mặc dù, các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng đến thời điểm phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa xử phạt vi phạm hành chính. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy nội dung đề nghị áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là phù hợp với Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao các bị cáo cho Chính quyền địa phương giám sát, giáo dục các bị cáo cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Đối với tội “Đánh bạc” còn có thể xử phạt bổ sung bằng tiền, căn cứ vào lời khai tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì các bị cáo đều là người đang trong độ tuổi lao động có thu nhập ổn định nên áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là cần thiết.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng), bao gồm: 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) thu giữ trên chiếu bạc và 4.650.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ trên người bị cáo Lê Ngọc T3, Lê Sĩ B1 là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[8]. Về các vấn đề liên quan:
Đối với bà Lê Thị Hoài T6 ngày 26/01/2024 có hành vi cho các bị cáo sử dụng nhà ở thuộc sở hữu của mình làm địa điểm đánh bạc: Quá trình điều tra, xác định năm 2017 bà T6 bị Công an thị trấn Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”; bà T6 đã chấp hành xong việc nộp phạt và đã được xoá tiền sự. Giữa bà T6 với các bị cáo có mối quan hệ quen biết, trong đó bị cáo Trần Văn T1 là con rể bà T6. Ngày 26/01/2024, bà T6 đồng ý cho Trần Văn T1, Lê Sĩ B1, Nguyễn Tiến M và Lê Ngọc T3 sử dụng phòng khách làm địa điểm đánh bạc với số tiền sử dụng đánh bạc là 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng). Bà T6 không tham gia cá cược với các bị cáo và không hưởng bất cứ lợi ích vật chất từ việc cho các bị cáo sử dụng phòng khách làm địa điểm đánh bạc. Do đó, hành vi của bà Lê Thị Hoài T6 không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự cũng như không đồng phạm với các bị cáo Trần Văn T1, Lê Sĩ B1, Nguyễn Tiến M và Lê Ngọc T3 về tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên, hành vi cho các bị cáo sử dụng nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình làm địa điểm đánh bạc của bà Lê Thị Hoài T6 là vi phạm pháp luật. Ngày 20/3/2024, Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị Hoài T6 về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc” quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Ngày 26/3/2024, bà T6 đã chấp hành việc nộp phạt. Vì vậy, việc Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Lê Thị Hoài T6 là có căn cứ.
[9]. Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Lê Ngọc T3 và Trần Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến M (tên gọi khác: Không) 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ 06 ngày (từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024) tương ứng với 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (Mười bốn) tháng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đ nhận được quyết định thi hành án.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Sĩ B1 (tên gọi khác: Không) 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ 06 ngày (từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024) tương ứng với 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (Mười bốn) tháng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đ nhận được quyết định thi hành án.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T3 (tên gọi khác: Không) 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ 06 ngày (từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024) tương ứng với 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (Mười bốn) tháng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đ nhận được quyết định thi hành án.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 (tên gọi khác: Không) 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ 06 ngày (từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024) tương ứng với 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (Mười bốn) tháng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đ nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Lê Ngọc T3 và Trần Văn T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thi hành án.
[2]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Xử phạt mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) theo Giấy ủy nhiệm chi vào tài khoản số 3949.0.1054046.00000 đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà, ngày 03/5/2024 tại Kho bạc nhà nước huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Tất cả vật chứng nêu trên đều theo như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyệ Đăk Hà).
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Tiến M, Lê Sĩ B1, Lê Ngọc T3 và Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/5/2024), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 28/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 28/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo: Nguyễn Tiến Mạnh, Lê Sĩ Biên, Lê Ngọc Tuấn và Trần Văn Tú phạm tội “Đánh bạc”.
