|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 27/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Đăng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Sơ
- Bà Đặng Thị Kim Huệ
Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quốc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Huỳnh Văn N, sinh năm 1997 (tên gọi khác: Không); N1 sinh: H, Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ I, khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1974 (chết) và bà Lý Thị N2, sinh năm 1969; anh chị em ruột 02 người lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2003; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không; Tiền án: không; nhân thân: Tốt.
Tạm giữ: Ngày 04/4/2024.
Tạm giam từ ngày 12/4/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).
-
Trương Ngọc Tứ P, sinh năm 1993 (tên gọi khác: Ruồi); N1 sinh: H, Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S, sinh năm 1967 và bà Sử Thị M, sinh năm 1968; vợ: Bùi Thanh N3, sinh năm 1996; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2024; anh chị em ruột 03 người lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: không do đã được xóa án tích; Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 19/4/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 16 tháng. Hiện đang tạm đình chỉ thi hành án.
Ngày 09/8/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Hà Tiên (nay là thành phố H) kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt 02 năm tù, chấp hành án xong vào ngày 29/10/2018; Ngày 17/4/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt 01 năm tù chấp hành án xong vào ngày 26/3/2021.
Tạm giữ: Không
Tạm giam từ ngày 28/6/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).
Bị hại:
- Nguyễn Phương N4, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ B, khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Nguyễn Thị Thủy T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: B đường P, khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Trần Minh C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số D, tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Nguyễn Văn C1, sinh năm 1989. Nhà trọ T3 (phòng 4), khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngô Thị H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ I, Khu phố B, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Nguyễn Thị N5, sinh năm 1967. Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Trần Thanh P1, sinh năm 1952. Địa chỉ: C P, Khu phố A, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Nguyễn Vũ L, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
Người làm chứng:
- Lý Thị N2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Sử Thị M, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số B P, khu phố D, phường Đ, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/03/2024 đến ngày 31/03/2024 Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản là xe máy tại địa bàn thành phố H cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 29/03/2024 Huỳnh Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, gắn biển số 68S9-0487 (biển số này N nhặt ở bãi rác) đến rủ và chở Trương Ngọc Tứ P đến khu vực nghĩa trang Nó thuộc Khu phố B, phường P, thành phố H phát hiện chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Wave biển số 68H1-041.28 của bà Nguyễn Phương N4 đang dựng trong khu vực nghĩa trang không có người trông coi, N ở ngoài canh đường còn P tiếp cận lấy trộm chiếc xe mang về nhà của N, dán lại team xe, sơn lại một số bộ phận thành màu đen, thay biển số 68H1-041.28 thành biển số 68E1-049.15 (biển số nhặt được ở bãi rác) sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Sau đó P điều khiển chiếc xe Sirius biển số 68S9-0487 của N đến cầm cho bà Ngô Thị H thu được số tiền 1.200.000 đồng.
Lần thứ hai và thứ ba: Vào khoảng 23 giờ ngày 29/03/2024 đến khoảng 01 giờ ngày 30/03/2024 N điều khiển xe Wave biển số 68H1-041.28 lấy trộm được trước đó đến rủ và chở P đến đoạn đường N thuộc Khu phố E, phường B, thành phố H phát hiện 03 chiếc xe máy của ông Nguyễn Văn C1 để trước nhà đối diện phòng trọ của ông C1. N ở ngoài canh đường còn P đi vào lấy trộm chiếc xe Cub 50 màu sơn xanh, không biển số đem về nhà N cất giấu. Sau đó N và P tiếp tục quay lại địa điểm trên lấy trộm chiếc xe máy nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen biển số 51F3-7363 của ông C1 đem về nhà N cất giấu. Sáng ngày hôm sau 30/3/2024 đem 2 chiếc xe vừa trộm được của ông C1 đến bán cho bà Nguyễn Thị N5 mua phế liệu với số tiền 600.000 đồng/ 1 chiếc xe. Tổng số tiền bán được 1.200.000đ. N và P chia nhau tiêu xài hết, trong quá trình điều tra không thu hồi được xe.
Lần thứ tư: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 30/03/2024 N đều khiển xe Wave, gắn biển số 68E1-049.15 lấy trộm của bà Nguyễn Phương N4 trước đó đến rủ và chở P đi đến đoạn đường thuộc khu phố T, phường M, thành phố H phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, biển số 68H1-205.79 của ông Trần Minh C dựng ở lề đường có gắn sẵn chìa khóa, N lên xe của ông C nổ máy chạy về nhà N cất giấu, sơn đen một số bộ phận, thay biển số 68H1-205.79 thành biển số 60F3-822.49 đã nhặt được ở bãi rác làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, còn P mang chiếc xe nhãn hiệu Wave của bà N4 gắn biển số 68E1-049.15 mang đi cầm cho bà Ngô Thị H được số tiền 2.500.000 đồng, P và N chia nhau tiêu xài hết.
Lần thứ năm: Khoảng 16 giờ ngày 31/03/2024 N và P đến đoạn đường M thuộc khu phố D, phường B, thành phố H phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 68H1-144.14 của bà Nguyễn Thị Thủy T1 có cấm sẵn chìa khóa, N dừng xe lại giao cho P điều khiển còn N lấy trộm xe biển số 68H1-144.14 của bà T1 mang đến bán cho bà Nguyễn Thị N5 thu được số tiền 1.000.000 đồng, N và P chia nhau tiêu xài hết, quá trình điều tra không thu hồi được xe.
* Việc thu giữ xử lý vật chứng:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 68H1-041.28 (đã thay đổi biển số thành 68E1-049.15), số máy C52E-1229365, số khung: 5E91DY 012755, xe đã qua sử dụng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 68H1-205.79 (đã thay đổi biển số thành 60F3-822.49), số máy không rõ, số khung: RLHJA 3923NY102649, xe đã qua sử dụng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, gắn biển số 68S9-0487, số khung RLCS5C630 AY384916, số máy: 5663-38496, đã qua sử dụng. Đây là xe của Huỳnh Văn N dùng làm phương tiện phạm tội hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên.
- 01 biển số xe máy mang số 68E1-049.15 đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên.
- 01 biển số xe máy mang số 60F3-822.49 đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên.
Tại kết luận định giá số 10 ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 68H1-041.28 (đã thay đổi biển số thành 68E1-049.15), số máy C52E-1229365, số khung: 5E91DY 017255, xe đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 29/3/2024 giá 6.900.000 đồng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE alpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 68H1-205.79 (đã thay đổi biển số thành 60F3-822.49), số máy không rõ, số khung: RLHJA 3923NY102649, tại thời điểm ngày 30/3/2024 giá 6.900.000 đồng.
Tại kết luận định giá số 16 ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận:
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Cup 50, màu sơn xanh, biển kiểm soát không rõ, xe đã qua sử dụng, không thu hồi được, tại thời điểm ngày 30/3/2024 giá 1.900.000 đồng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen, biển kiểm soát 51F3-7363 xe đã qua sử dụng, không thu hồi được, tại thời điểm ngày 30/3/2024 giá 3.900.000 đồng.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng, biển kiểm soát 68H1-144.14 xe đã qua sử dụng, không thu hồi được, tại thời điểm ngày 31/3/2024 giá 6.900.000 đồng. Tổng cộng giá trị các tài sản trên 26.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSHT ngày 30/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận sau khi phân tích tính chất và mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra đã có đủ yếu tố để xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N với mức án đề nghị từ 18 đến 24 tháng tù.
Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Trương Ngọc Tứ P với mức án đề nghị từ 18 đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn C1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ T2 yêu cầu bồi thường số tiền 6.900.000 đồng. Các bị cáo thống nhất bồi thường nên ghi nhận.
Ghi nhận việc bà Ngô Thị H không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.700.000 đồng.
Xử lý vật chứng:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 68H1-041.28 (đã thay đổi biển số thành 68E1-049.15), số máy C52E-1229365, số khung: 5E91DY 017255, xe đã qua sử dụng, đã trả lại cho bà Nguyễn Phương N4 là người quản lý hợp pháp và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE alpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 68H1-205.79 (đã thay đổi biển số thành 60F-822.49), số máy không rõ, số khung: RLHJA 3923NY102649, xe đã qua sử dụng, đã trả lại cho ông Trần Minh C là chủ sở hữu nên miễn xét.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu đỏ đen, gắn biển số 68S9-0487, số khung RLCS5C630 AY384916, số máy: 5663-38496, đã qua sử dụng. Đây là xe của Huỳnh Văn N dùng làm phương tiện phạm tội hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên đề nghị tịch thu xung công quỹ nhà nước đối với chiếc xe, còn biển số 68S9-0487 Nam nhặt được ở bãi rác gắn vào xe đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 biển số xe máy mang số 68E1-049.15 đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 biển số xe máy mang số 60F3-822.49 đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi mua xe của bà Nguyễn Thị N5 và hành vi cầm xe của bà Ngô Thị H là các tài sản trộm cắp mà có tuy nhiên bà N5 và bà H không biết đây là tài sản trộm cắp nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
Bị hại T2 xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đã biết hành vi của mình là có lỗi, vi phạm pháp luật, mong hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập trong vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/03/2024 đến ngày 31/03/2024 Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản là xe máy tại địa bàn thành phố H cụ thể:
Vào khoảng 15 giờ ngày 29/03/2024 tại khu vực nghĩa trang Nó thuộc Khu phố B, phường P, thành phố H và P lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 68H1-041.28 của bà Nguyễn Phương N4 trị giá 6.900.000 đồng. Vào khoảng 23 giờ ngày 29/03/2024 đến khoảng 01 giờ ngày 30/03/2024 tại Khu phố E, phường B, thành phố H và P lấy trộm chiếc xe máy Cub 50 màu sơn xanh, không biển số trị giá 1.900.000đ và chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đen biển số 51F3-7363 của ông Nguyễn Văn C1 trị giá 3.900.000 đồng. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 30/03/2024 tại khu phố T, phường M, thành phố H và P lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, biển số 68H1-205.79 của ông Trần Minh C trị giá 6.900.000 đồng và khoảng 16 giờ ngày 31/03/2024 tại đường M thuộc khu phố D, phường B, thành phố H và P tiếp tục lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 68H1-144.14 của bà Nguyễn Thị Thủy T1 trị giá 6.900.000 đồng. Theo kết luận định giá tổng giá trị các tài sản trên là 26.500.000 đồng.
- [3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ nhận thức để biết rằng hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng do bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài mà không phải do công sức của mình làm ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội do đó việc truy tố bị cáo của Viện kiểm sát là có căn cứ. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân, tổ chức mà còn làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
- [4] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần (05 lần trong đó có 04 lần tài sản trộm cắp có giá trị trên 2.000.000 đồng) nên phải xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [5] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo N có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo P đang nuôi con nhỏ, được phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt của các bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- [6] Về nhân thân: Bị cáo N là người đã chủ động rủ rê lôi kéo P thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P có nhân thân xấu, đã từng 2 lần bị xử phạt tù nhưng đã được xóa án tích và đang phải chấp hành cai nghiện bắt buộc nhưng được tạm đình chỉ. Do đó hành vi của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn C1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ T2 yêu cầu bồi thường số tiền 6.900.000 đồng. Các bị cáo thống nhất bồi thường nên ghi nhận.
Ghi nhận việc bà Ngô Thị H không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.700.000 đồng.
- [8] Về vật chứng vụ án: Các vật chứng đã trả lại người quản lý hợp pháp và chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên ghi nhận, không xem xét. Các vật chứng còn lại tịch thu tịch thu nộp ngân sách nhà nước và tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn N 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày 04/4/2024.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trương Ngọc Tứ P 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày 28/6/2024.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), bồi thường cho bà Nguyễn Thị Mỹ T2 số tiền 6.900.000đ (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng). Tổng cộng: 11.900.000đ.
Như vậy mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 5.950.000đ (Năm triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) là chấm dứt trách nhiệm dân sự,
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị H không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự nên miễn xét.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu các bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền trên cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 68H1-041.28 (đã thay đổi biển số thành 68E1-049.15), số máy C52E-1229365, số khung: 5E91DY 017255, xe đã qua sử dụng, đã trả lại cho bà Nguyễn Phương N4 nên miễn xét.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE alpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 68H1-205.79 (đã thay đổi biển số thành 60F-822.49), số máy không rõ, số khung: RLHJA 3923NY102649, xe đã qua sử dụng, đã trả lại cho ông Trần Minh C nên miễn xét.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu đỏ đen, gắn biển số 68S9-0487, số khung RLCS5C630 AY384916, số máy: 5663-38496, đã qua sử dụng. Đây là xe của Huỳnh Văn N dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với biển số 68S9-0487 Nam nhặt được ở bãi rác gắn vào xe không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024.
- 01 biển số xe máy mang số 68E1-049.15 đã qua sử dụng và 01 biển số xe máy mang số 60F3-822.49 đã qua sử dụng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024.
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- + Buộc bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- + Buộc bị cáo Huỳnh Văn N và Trương Ngọc Tứ P mỗi bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/8/2024). Riêng người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo luật định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Đăng |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
