TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/DS-ST Ngày: 27-5-2024. V/v: “Tranh chấp lối đi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Minh Hùng.
- Bà Nguyễn Trần Mỹ Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đan Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ tham gia phiên tòa: Bà Trần Tường Vi – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08, ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 123/2021/TLST-DS,ngày 06/12/2021,việc “Tranh chấp lối đi Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QÐST-DS, ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mai Bá C, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, Long An. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Mai Thị M, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Hồng H, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024). Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- Ông Phan Hồng Á sinh năm: 1957; Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, Long An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời trình bày tiếp theo của nguyên đơn ông Mai Bá C như sau: Ông là người sử dụng thửa đất số 75, tờ bản đồ số 9, diện tích 2.322m², loại đất ONT, tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Từ thửa đất của ông để đi ra đường chính (đê bao) thì đang qua con đường chiều ngang 02m. Con đường này bắt đầu từ thửa đất số 75 của ông, đi qua thửa đất số 76 của ông Mai Bá G (em của bà Mai Thị M) và thửa đất số 351 của bà Mai Thị M, phía đối diện con đường 02m này là thửa đất số 542 và 350 của ông Mai Bá K. Con đường này có từ năm 1975 đã được gia đình ông Mai Bá R (ba của Mai Bá C) và ông Mai Bá C1 (ba của Mai Thị M) thống nhất là con đường này của ông Mai Bá R.
Trước đây, bà M có trồng hàng râm bụt làm ranh nhưng nay bà M phá bỏ hàng râm bụt và đã xây hàng rào, làm hẹp lối đi lại. Do đó, ông yêu cầu bà M tháo bỏ hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi để đủ kích thước của lối đi (có chiều ngang là 02m, chiều dài qua hết thửa đất số 351 của bà M), cụ thể tại vị trí A diện tích 9,3m² và vị trí B diện tích 3,2m² theo Mảnh trích đo địa chính số 226-2023, duyệt ngày 08/9/2023.
Bị đơn bà Mai Thị M do ông Phan Hồng H là người đại diện trình bày: Phần lối đi ông C khởi kiện bà M là của cha ruột bà M tên Mai Bá C1 cho lại bà M. Trước đây lối đi này nằm trong các thửa đất số 351, 338 và 76 (thửa đất số 338, 76 hiện do ông Mai Bá G đứng tên). Ông C1 mở lối đi này cách nay hơn 50 năm, mục đích là để dẫn trâu ra vào chuồng nằm trên thửa đất số 76.
Thửa đất số 75 của ông C trước đây không có sử dụng lối đi này mà sử dụng lối đi khác (phía bên kia của thửa đất số 350) để đi vào.
Năm 2015, ông C tự ý đổ bê tông để làm đường đi này, chiều rộng khoảng 0,8m đến 0,9m. Do là chỗ bà con nên bà M không có ý kiến, hơn nữa cũng muốn tạo lối đi cho ông C.
Do đó việc ông C khởi kiện yêu cầu bà M tháo dỡ hàng rào trả lại phần đất tại vị trí A diện tích 9,3m² và vị trí B diện tích 3,2m² ông có ý kiến như sau:
- Phần nằm ngoài ranh đất (theo ranh bản đồ địa chính) thửa đất số 351 của bà M (Ký hiệu B, diện tích 3,2m²) là đất công, chưa được cấp cho cá nhân hay tổ chức nào nên đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết.
- Phần đất còn lại (Ký hiệu A, diện tích 9,3m²) là phần đất nằm trong ranh thửa đất số 351 của bà M. Do đó đề nghị Tòa án bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Mai Bá C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà là vợ của ông Mai Bá C. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C, không có bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An có đơn đề nghị vắng mặt nhưng tại Văn bản số 164/UBND-KT ngày 19/3/2024 có ý kiến như sau:
Nguồn gốc hình thành lối đi: được hình thành trước năm 1975 lúc ông Mai Bá C1 (cha của bà Mai Thị M) và ông Mai Bá R (cha của ông Mai Bá C) di cư từ ngôi cũ ra ở.
Ông C1 để đất lại cho bà M sử dụng một phần diện tích đất mặt tiền giáp đê bao là thửa số 351, tờ bản đồ số 8; phần mặt tiền còn lại chạy dài xuống sông V để lại cho con trai là Mai Bá G.
Ông R để đất lại cho con là Mai Bá G1 sử dụng phần đất mặt tiền đê bao, ông G1 chết để lại cho con là Mai Bá K hiện đang sử dụng (thửa đất số 350, 542 tờ bản đồ số 8); phần đất phía trong giáp sông V, ông R để lại cho con là Mai Bá C sử dụng (thửa số 75, tờ bản đồ số 9).
Hai bên gia đình ông C1 và bà R đã sử dụng lối đi này để đi chung từ năm 1975. Lúc gia đình ông C1 và bà R có nuôi trâu và cùng nhau chừa lối đi chung khoảng 1,5m - 2m để phục vụ đi lại và sinh hoạt hàng ngày của hai gia đình. Thời gian sau này phía gia đình ông C1 không còn nuôi trâu nữa và có phát sinh mâu thuẫn với gia đình ông R nên không còn đi lối này nữa mà chuyển sang lối đi khác trên phần đất của mình (phía con rạch).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Hồng Á trình bày: Ông là chồng của bà Mai Thị M. Ông thống nhất với ý kiến của bà M.
Tại phiên tòa: Các đương sự trình bày đã cung cấp đủ các chứng cứ, không cung cấp chứng cứ gì thêm đồng thời vẫn giữ ý kiến và yêu cầu của mình.
Nguyên đơn tranh luận: Yêu cầu bà M trả lại con đường như cũ.
Bị đơn tranh luận: Phần đất ông C đang tranh chấp không phải của cá nhân nào. Bà M sử dụng phần đất đúng ranh, không có lấn đất của ai. Bà M đồng ý với M1 trích đo địa chính số 226-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T duyệt ngày 08/9/2023.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An phát biểu:
- - Về hình thức: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật.
- - Về nội dung: Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 254 Bộ luật Dân sự; các Điều 4, Điều 8, Điều 99, Điều 166, Điều 203, Điều 208 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Bá C về việc yêu cầu bà Mai Thị M phải tháo dỡ hàng rào trả lại đất làm lối đi tại vị trí A diện tích 9,3m².
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Mai Bá C về việc yêu cầu bà Mai Thị M tháo dỡ hàng rào tại vị trí B diện tích 3,2m². Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã N xử lý hành vi xây dựng hàng rào lấn chiếm lối đi công cộng của bà M.
Vị trí, tứ cận các vị trí A và B theo Mảnh trích đo địa chính số 226-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T duyệt ngày 08/9/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Ông Mai Bá C khởi kiện bà Mai Thị M yêu cầu mở lối đi thuộc một phần thửa đất 351 tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại xã N, huyện T, tỉnh Long An. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về quyền đối với bất động sản liền kề, cụ thể là “Tranh chấp quyền về lối đi qua” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Dân sự và khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bà Nguyễn Thị B có mặt tại phiên tòa ngày 08/5/2024, phiên tòa ngày 27/5/2024 có mặt tại tòa án nhưng không tham dự phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện Ủy ban nhân dân xã N và bà Bùi theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Ông Mai Bá C đang quản lý sử dụng phần đất thửa số 75, tờ bản đồ số 9, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Từ thửa đất của ông để đi ra đường chính (đê bao) phải đi ngang thửa đất số 351 của bà M, con đường này trước đây có chiều ngang 02m được hình thành trước năm 1975 nhưng nay bà M đã xây hàng rào trên phần đất này, làm hẹp lối đi lại. Do đó, ông yêu cầu bà M tháo bỏ hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi để đủ kích thước của lối đi (có chiều ngang là 02m, chiều dài qua hết thửa đất số 351 của bà M), cụ thể theo Mảnh trích đo địa chính số 226-2023, ngày 08/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T thì ông yêu cầu bà Mai Thị M tháo dỡ hàng rào trả lại phần đất tại vị trí A diện tích 9,3m² và vị trí B diện tích 3,2m².
[3.1] Đối với tranh chấp vị trí A diện tích 9,3m²: Theo ranh bản đồ địa chính và Mảnh trích đo địa chính số 226-2023 ngày 08/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T thể hiện phần đất vị trí A có diện tích 9,3m² nằm trong thửa đất số 351 của bà M. Do đó, việc ông C cho rằng bà M xây dựng hàng rào tại vị trí A lấn chiếm lối đi và yêu cầu bà M phải tháo dỡ phần hàng rào xây tại vị trí A để trả lại lối đi là không có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Đối với tranh chấp vị trí B diện tích 3,2m²: Theo văn bản số 1805/UBND-KT ngày 15/11/2021 và số 164/UBND-KT ngày 19/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã N xác định phần đất tranh chấp tại vị trí B diện tích 3,2m² theo Mảnh trích đo địa chính 226-2023 không phải là lối đi công cộng, không phải là đất công cộng. Tuy nhiên, theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 29/10/2014 thửa đất số 350 và Trích lục bản đồ địa chính ngày 09/12/2021 đối với thửa đất số 351 thì giữa thửa đất số 351 của bà M, thửa đất số 76 của ông G với thửa đất số 350 và 542 của ông K có lối đi <3m. Phần diện tích lối đi này không nằm trong các thửa đất số 351, 76, 350 và 542 và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Theo văn bản số 335/UBND-KT ngày 27/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T, phần đất tranh chấp tại vị trí B diện tích 3,2m² theo Mảnh trích đo địa chính 226-2023 thuộc đất của lối đi công cộng. Do đó, có căn cứ xác định lối đi tiếp giáp giữa các thửa đất số 351, 76, 350 và 542 là lối đi công cộng. Việc bà M xây dựng phần hàng rào trên phần đất vị trí B theo Mảnh trích đo địa chính số 226-2023 là xây dựng lấn chiếm lối đi công cộng.
Theo Luật Đất đai năm 2013 quy định:
Điều 4: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý...”;
Khoản 2 Điều 8: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất sử dụng vào mục đích công cộng được giao để quản lý, đất chưa giao, đất chưa cho thuê tại địa phương”.
Khoản 2 Điều 208: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn, chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm.”
Do đó, việc bà M xây dựng hàng rào tại vị trí B lấn chiếm lối đi công cộng thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã N, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông C về việc yêu cầu bà M phải tháo dỡ phần hàng rào xây tại vị trí B để trả lại lối đi. Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã N xử lý hành vi xây dựng hàng rào lấn chiếm lối đi công cộng của bà M.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu của ông C khởi kiện bà M di dời tài sản trả lại phần đất tại vị trí A diện tích 9,3m²; Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông C tại vị trí tranh chấp B diện tích 3,2m² theo Mảnh trích đo địa chính số 226-2023 duyệt ngày 08/9/2023.
[5] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ kiện không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về chi phí tố tụng: Đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tổng cộng 6.427.000đ. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu chi phí này.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mai Bá C là người cao tuổi và có yêu cầu miễn án phí nên được miễn án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 245 Bộ luật Dân sự; Các Điều 4, Điều 8, Điều 100, Điều 166, khoản 1 Điều 203, Điều 208 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Bá C “Tranh chấp lối đi” với bà Mai Thị M về việc yêu cầu bà M tháo dỡ, di dời hàng rào tại vị trí A diện tích 9,3m².
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Mai Bá C về việc yêu cầu bà Mai Thị Mỹ di d hàng rào trả lại phần đất tại vị trí B diện tích 3,2m².
Phần đất tọa lạc tại xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vị trí tứ cạnh theo Mảnh trích đo địa chính số 226-2023 duyệt ngày 08/9/2023.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã N xử lý hành vi xây dựng hàng rào lấn chiếm lối đi công cộng của bà Mai Thị M.
- Chi phí tố tụng: Ông Mai Bá C phải chịu số tiền 6.427.000₫ (Sáu triệu, bốn trăm hai mươi bảy nghìn đồng), ông C đã nộp xong.
- Về án phí: Miễn án phí cho ông Mai Bá C. Hoàn trả cho ông Mai Bá C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007089 ngày 06/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày cấp, tống đạt hợp lệ.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thoa |
Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về tranh chấp lối đi
- Số bản án: 28/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Bá C "tranh chấp lối đi" Mai Thị M
