Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐS

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 28/2023/HS-ST

Ngày 06 - 11 - 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐS TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Mậu Hoàn

Bà Lê Thị Thủy

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án, Tòa án

nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá tham gia

phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt Quế - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Vũ Tuấn A; sinh ngày 10 tháng 07 năm 1995; tại huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn H; con bà: Vũ Thị N; vợ: Vũ Khánh T (đã ly hôn), con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 01/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, chấp hành xong bản án ngày 22/3/2019; Bị tạm giữ từ ngày 10/8/2023 đến ngày 16/8/2023 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, từ ngày 27/10/2023 đến nay tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh T. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Lê Đình Q - Sinh năm: 1994

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Ngày 10/8/2023, Công an huyện Đ bắt quả tang Nguyễn Tài N1, sinh năm 1991 ở thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa và Hoàng Thị H1, sinh năm 2006 ở thôn C, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành khám xét tại phòng trọ của Nguyễn Tài N1 ở thôn Y, xã Đ, huyện Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra (sau đây viết tắt là CSĐT) Công an huyện Đ phát hiện trong chiếc giày cỡ số 38, hiệu GUCCI có một túi ni lon màu xanh, bên trong chứa 02 viên nén màu xanh và các viên nén màu hồng nghi là ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ niêm phong túi ni lon đựng các viên nén trên để phục vụ quá trình điều tra. Tại thời điểm khám xét thì N1 không có mặt ở phòng trọ mà có mặt Vũ Tuấn A và anh Lê Đình Q, sinh năm 1994 ở thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Vũ Tuấn A đã tự thú và khai nhận với Cơ quan điều tra số viên nén màu xanh và màu hồng đựng trong túi ni lon màu xanh để trong chiếc giày là ma túy Tuấn A mua về để sử dụng dần cho bản thân.

Quá trình điều tra Tuấn A khai nhận: do nghiện hút ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 03/8/2023 Tuấn A đã một mình đi ra khu vực nghĩa địa thuộc thôn P, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương mua của một người nam giới không quen biết, không rõ địa chỉ một túi ma túy với giá 5.000.000 đồng để về sử dụng. Ngày 05/8/2023 khi vào chơi tại phòng trọ của bạn là Nguyễn Tài N1 ở thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa thì Tuấn A có mang theo và giấu vào chiếc giày của mình hay đi để sử dụng dần. Khi không có ai thì Tuấn A lấy một ít ma túy ra sử dụng. Ngày 06/8/2023, Tuấn A gọi điện mời anh Lê Đình Q vào S tắm biển, đến trưa ngày 07/8/2023 thì anh Q về S gặp Tuấn A, đến tối cùng ngày thì Tuấn A đưa anh Q về phòng trọ của Nguyễn Tài N1 để ở. Lúc này tại phòng trọ có N1 và bạn gái của N1 là H1 đang ở trong phòng. Sau đó, N1 và H1 đã nhường lại phòng trọ cho Tuấn A và Q ở rồi đi thuê nhà nghỉ để ở. Sáng ngày 10/8/2023 khi Tuấn A và anh Q đang ở trong phòng trọ của N1 thì bị lực lượng Công an vào khám xét, phát hiện và thu giữ một chiếc giày bên trái hiệu GUCCI, bên trong có một túi ni lon màu xanh đựng 02 viên ném màu xanh và các viên nén màu hồng. Tuấn A khai nhận đây là ma túy của Tuấn A mua về để sử dụng dần cho bản thân. Việc Tuấn A sử dụng và cất giấu ma túy thì không ai biết. Kết quả xét nghiệm nước tiểu khẳng định Tuấn A dương tính ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 10/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trưng cầu giám định gói nilon chứa các viên nén màu xanh và màu hồng(nghi ma túy) thu giữ của Vũ Tuấn A.

Tại Bản kết luận giám định số 2941/KL-KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8,467 gam, loại Methamphetamine; 02 viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,203 gam, loại Methamohetamine. Tổng khối lượng ma túy mà Tuấn A Tàng trữ là 8,670 gam.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì ký hiệu T2 do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Mai Văn M và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T bên trong có

2

toàn bộ bao gói mở niêm phong ký hiệu M3, 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,101 gam ma túy loại Methamphetamine và các viên nén màu hồng có khối lượng 7,776 gam ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định và một chiếc giày bên trái hiệu GUCCI đã qua sử dụng hiện đang quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐS để phục vụ quá trình truy tố, xét xử giải quyết vụ án

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS-ĐS ngày 10 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Vũ Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS)

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Vũ Tuấn A mức án từ 7 (bảy) năm đến 8 (tám) năm tù, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy : Số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 chiếc giày bên trái hiệu GUCCI là phương tiện phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận giống với lời khai tại cơ quan điều tra và giống với nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng phù hợp với nội dung sự việc như cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đêu hợp pháp.

3

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, đơn xin tự thú, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Do nghiện hút ma tuý nên khoảng 18 giờ ngày 03/8/2023, Vũ Tuấn A đã một mình đi ra khu vực nghĩa địa thuộc thôn P, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương mua của một người nam giới không quen biết, không rõ địa chỉ một túi ma túy với giá 5.000.000 đồng để về sử dụng. Sau đó đến ngày 05/8/2023, Tuấn A đã mang theo túi ma túy đến phòng trọ của bạn là Nguyễn Tài N1 ở thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa và cất giấu vào chiếc giày bên trái của mình để sử dụng dần. Đến sáng ngày 10/8/2023 khi Tuấn A đang ở trong phòng trọ của N1 thì lực lượng Công an vào khám xét và đã thu giữ toàn bộ số ma túy trên gồm hai viên nén màu xanh và các viên nén màu hồng, sau đó Tuấn A đã tự thú về hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của mình. Kết luận giám định số ma túy thu giữ có tổng khối lượng là 8,670 gam, loại Methamphetamine bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ như sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự thú được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 BLHS.

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo sớm trở về đoàn tụ với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, mà còn là tiền đề và điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác trong xã hội. Nên cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 chiếc giày bên trái hiệu GUCCI là phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4

[9] Về nguồn gốc ma túy, theo lời khai của Vũ Tuấn A là do mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ địa chỉ ở khu vực nghĩa địa thôn P, xã V, huyện B, tỉnh Hưng Yên. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho Tuấn A là ai, do vậy không đủ cơ sở để xử lý. Đối với Nguyễn Tài N1 và Hoàng Thị H1, quá trình điều tra xác định N1, H1 không biết gì về hành vi phạm tội của Tuấn A nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tài N1 và Hoàng Thị H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để xử lý trong một vụ án khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Tuấn A 7 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/08/2023).

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ Toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong 01 chiếc phong bì ký hiệu T2 đóng dấu niêm phong và có chữ ký của những người có liên quan do phòng K Công an tỉnh T phát hành.

+ Một chiếc giày bên trái hiệu GUCCI đã qua sử dụng.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐS).

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Tuấn A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - CQĐT CA huyện ĐS;
  • - CQTHAHS CA huyện ĐS;
  • - CQTHADS huyện ĐS;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện ĐS;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

6

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - CQĐT CA huyện ĐS;
  • - CQTHAHS CA huyện ĐS;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện ĐS;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Mậu Hoàn

Lê Thị Thủy

Nguyễn Thanh Tân

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐS TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐS TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm g khoản 2 Điều 249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger