Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Thúy Kiều

Ông Võ Văn Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Cao Trương Minh Đức-Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Q, sinh ngày 01/01/1963; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Con ông Nguyễn Văn N(chết) và bà Nguyễn Thị L (chết); Có chồng tên ông Lâm Văn K(đã ly hôn) và 02 người con đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi); Tiền án: 01 lần, vào ngày 09/01/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 03/2023/HS-PT, ngày 14/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Về nhân thân: có 01 lần tiền sự, vào ngày 12/7/2021 bị Trưởng Công an thị trấn L1, huyện L, tỉnh Sóc Trăngxử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 33/QĐ-XPVPHC, đến lần phạm tội này được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/7/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Đặng Thị Đ năm 1976; Nơi cư trú: Số B đường K, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
  2. Bà Trần Thị Tuyết P năm 1975; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
  3. Bà Đặng Thị H năm 1974; Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
  4. Bà Lương Thị Ngọc T năm 1988; Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Chí T1 năm 1990; Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 01/4/2024, Công an thị trấn L1 tiến hành kiểm tra bắt quả tang hành vi đánh bạc với hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền tại khu vực quán nước giải khát trước nhà của bà Lê Thị Tuyết Quán nước giải khát trên do con rễ của bà Tlà Nguyễn Chí T2 lý. Tại địa điểm trên phát hiện có 04 người đang tham gia đánh bạc trái phép gồm: Lương Thị Ngọc TĐặng Thị ĐTrần Thị Tuyết PĐặng Thị HNguyễn Thị Qvà 01 người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch đã bỏ chạy thoát nên Công an thị trấn L1 tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, đồng thời tạm giữ các tang vật có liên quan gồm: thu giữ tại chiếu bạc ở hiện trường tiền Việt Nam 330.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá và thu số tiền trên người của Lương Thị Ngọc T3 là 425.000 đồng, Đặng Thị H1 827.000 đồng, Trần Thị Tuyết P1 300.000 đồng, Đặng Thị Đ1 394.000 đồng, Nguyễn Thị Q1 902.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: vào khoảng 15 giờ 30 ngày 04/4/2024, QHTuyết PÐvà Ngọc T4 đến quán nước giải khát do ông Tlquản lý để tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức bài binh 06 lá được ăn thua bằng tiền, Tllà người cho những người này sử dụng địa điểm được giao cho T1quản lý và cung cấp bài dùng để đánh bạc trái phép nhằm bán nước cho người chơi nhưng không thu tiền xâu. Hình thức đánh bạc: khi tham gia đánh bạc thì người phụ nữ không rõ lai lịch làm cái, còn QĐHTuyết Pvà Ngọc T5 gia đặt cược. Kết quả điều tra chứng minh được số tiền dùng vào việc đánh bạc gồm có: tiền thu giữ tại chiếu bạc là 330.000 đồng và tiền mang theo dùng để đánh bạc của Q1 902.000 đồng, T6 425.000 đồng, Đ1 394.000 đồng, H1 827.0000 đồng và P1 300.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 3.178.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS-LP ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Q2 tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thị Q3 tội “Đánh bạc”. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tây gồm 52 lá bài.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam 3.178.000 đồng

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy, hiện nay do Cơ quan Điều tra không thu giữ tài sản gì của ông Nguyễn Chí T7 việc giải quyết vụ án không làm phát sinh hay ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông T1nên Hội đồng xét xử thay đổi tư cách tham gia tố tụng trong vụ án của ông T1thành người làm chứng.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Trần Thị Tuyết P2 người làm chứng là ông Nguyễn Chí T8 mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình Điều tra thì đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không gây trở ngại hoặc làm ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với những người tham gia tố tụng nêu trên.

[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 01/4/2024, tại quán nước do ông Nguyễn Chí T2 lý ở Ấp A, thị trấn L, huyện L cùng với Lương Thị Ngọc TĐặng Thị ĐĐặng Thị Hvà Trần Thị Tuyết P3 bạc trái phép được thua bằng tiền với nhau bằng thức đánh bài binh 06 lá thì bị bắt quả tang, số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 330.000 đồng và thu trên người của bị cáo, TĐHvà Psố tiền mang theo dùng để đánh bạc là 2.848.000 đồng nên tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.178.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng tại địa phương. Mặc dù tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng do bị cáo đã bị kết án về tội đánh bạc, đến lần phạm tội này chưa hết thời hạn đương nhiên được xóa án tích là 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án trước theo quy định tại Khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thị Q3 tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận và cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp.

[4]. Tuy nhiên, quyết định mức hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5]. Về xử lý vật chứng của vụ án như sau:

Đối với 01 bộ bài 52 lá là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền Việt Nam là 3.178.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

[6]. Đối với hành vi của Nguyễn Chí T9 Thị Ngọc TĐặng Thị ĐĐặng Thị Hvà Trần Thị Tuyết P4 chứa chấp việc đánh bạc và tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh 06 lá được thua bằng cùng với bị cáo. Do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không truy cứu trách nhiệm hình sự mà đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[8]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt xử phạt bị cáo ở mức trung bình như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Q3 tội “Đánh bạc”.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tây gồm 52 lá bài theo Phiếu Nhập kho số NK0037 ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

    Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam 3.178.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000415 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Đội Tổng hợp-CA huyện Long Phú;
  • - CQTHAHS-CA huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND xã Đ, huyện L,
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Q can tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger