TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-4-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Diệu Tuyết Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đô
Bà Lê Thị Kiều Thu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Châu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 486/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 165/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà Nguyễn Thị Thanh N, vắng mặt ông Huỳnh Văn V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Huỳnh Văn V tự tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2009 thì đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P ngày 15/10/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau, cùng nhau lo cho gia đình và chăm sóc con cái. Về sau vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, do tính cách không hòa hợp, do ông V hay nhậu nhẹt, say xỉn về nhà kiếm chuyện cãi vã, làm cho đời sống gia đình không còn hạnh phúc. Vì thương con nên bà N cố gắng bỏ qua mâu thuẫn để tiếp tục chung sống. Nhưng thời gian gần đây, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được. Hiện bà N và ông V đã sống ly thân nhau, bà N dọn ra ngoài để sống. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, hai bên không còn quan tâm, hỏi han gì nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Văn V.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Huỳnh Văn V có 02 con chung tên là Huỳnh Văn N1, sinh ngày 25/5/2009 và Huỳnh Thị Thanh N2, sinh ngày 31/12/2015. Hiện bà N đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Thanh N2, còn con chung Huỳnh Văn N1 đang sống cùng với ông Huỳnh Văn V. Sau ly hôn, bà N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Thanh N2, còn con chung Huỳnh Văn N1 sẽ do ông V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Huỳnh Văn V: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần yêu cầu ông Huỳnh Văn V phải có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông V cố tình trốn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó Tòa án không thực hiện được việc lấy lời khai của bị đơn ông Huỳnh Văn V. Tòa án đã tống đạt trực tiếp Thông báo về việc thụ lý vụ án số 486/TB-TLVA ngày 06/10/2023 cho ông V nhưng ông V từ chối nhận văn bản, không ký nhận; tống đạt trực tiếp Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 486/TB-TA ngày 26/02/2024; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ số 30/TB-TA ngày 13/3/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2024 cho ông V, ông V đều nhận các văn bản nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa.
Tại Biên bản xác minh ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết với đại diện Công an phường Đ, thành phố P xác định: Ông Huỳnh Văn V có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại địa phương.
Tòa án đã mở phiên hòa giải vào ngày 13/3/2024 để các đương sự hòa giải đoàn tụ với nhau nhưng ông Huỳnh Văn V không có mặt tại phiên hòa giải, sau đó bà N có đơn xin từ chối hòa giải.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng quy định; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; Bị đơn không chấp hành quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cháu Huỳnh Thị Thanh N2, sinh ngày 31/12/2015 cho bà Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi thành niên, giao cháu Huỳnh Văn N1, sinh ngày 25/5/2009 cho ông Huỳnh Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và việc nuôi con; Bị đơn có nơi cư trú tại: Khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự đoàn tụ nhưng bị đơn cố tình vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa để xét xử đối với vụ án.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung:
3.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Huỳnh Văn V tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 15/10/2009 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Mặc dù bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Huỳnh Văn V đã có thời gian chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau, cùng nhau chăm lo cho gia đình và con cái. Tuy nhiên sau đó cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng, vợ chồng hay cãi vả, vì thương con nên bà N cố gắng bỏ qua mâu thuẫn để tiếp tục chung sống. Nhưng thời gian gần đây, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được. Bà N dọn ra ngoài để sống và hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau.
Tòa án đã tống đạt trực tiếp giấy triệu tập, thông báo hòa giải nhưng ông Huỳnh Văn V cố tình vắng mặt, không có hành động thể hiện thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xét lời khai của nguyên đơn, tình trạng hôn nhân hiện nay của các bên đương sự có cơ sở khẳng định tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân để xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Nay, bà Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu ly hôn, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.
3.2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Huỳnh Văn V có 02 con chung tên là Huỳnh Văn N1, sinh ngày 25/5/2009 và Huỳnh Thị Thanh N2, sinh ngày 31/12/2015. Hiện bà N đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Thanh N2, còn con chung Huỳnh Văn N1 đang sống cùng với ông Huỳnh Văn V. Sau ly hôn, bà N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Thanh N2, còn con chung Huỳnh Văn N1 sẽ do ông V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Xét thấy, tại bản tự khai cháu Huỳnh Văn N1 cũng có nguyện vọng được ở cùng với ba, còn cháu Huỳnh Thị Thanh N2 đang sống cùng với mẹ. Do đó để đảm bảo sự ổn định và điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các cháu, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu N2 cho bà N được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên; giao cháu N1 cho ông V được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
3.3 Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với ông Huỳnh Văn V.
- Về quyền nuôi con:
- - Giao con chung tên Huỳnh Thị Thanh N2, sinh ngày 31/12/2015 cho bà Nguyễn Thị Thanh N được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên.
- - Giao con chung tên Huỳnh Văn N1, sinh ngày 25/5/2009 cho ông Huỳnh Văn V được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên.
- Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho bên nào.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018744 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Bà Nguyễn Thị Thanh N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/4/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Diệu Tuyết Trinh |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN (Ký tên, ghi rõ họ tên) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Diệu Tuyết Trinh |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Văn V. Sau ly hôn, bà N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Thanh N2, còn con chung Huỳnh Văn N1 sẽ do ông V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
