Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi, ông Nguyễn Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972; nơi cư trú: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1971; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà C, ông Đ vắng mặt tại phiên tòa (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Bà C và ông Đ tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, tổ chức lễ cưới và chung sống từ năm 1989, đăng ký kết hôn năm 2002. Sau khi tổ chức lễ cưới, vợ chồng sinh sống cùng gia đình ông Đ tại ấp V, xã V, T (nay là thành phố) C. Đến năm khoảng năm 1991 thì vợ chồng ra ở riêng (gần gia đình chồng), nay là tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.

Quá trình chung sống, bà C và ông Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cãi nhau, ông Đ thường xuyên say sỉn về nhà chửi mắng, thỉnh thoảng còn bạo lực với bà. Vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn cứ kéo dài.

Đến tháng 08/2023, bà C đến nhà chị ruột tại tổ I, khóm V, phường N sinh sống cho đến nay, vợ chồng không còn chung sống với nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị C yêu cầu Toà án ly hôn với ông Lê Văn Đ.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà C và ông Đ có 02 (hai) con chung tên Lê Thanh G, sinh ngày 15/9/1991 và Lê Thị Diệu Đ1, sinh ngày 22/9/1993 đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn Đ trình bày: thống nhất với trình bày của bà C về thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn, hiện ông Đ và bà C không còn chung sống với nhau, hôn nhân không hạnh phúc, nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu bà Nguyễn Thị C;

Về con chung: có hai con chung Lê Thanh G, sinh ngày 15/9/1991 và Lê Thị Diệu Đ1, sinh ngày 22/9/1993, hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: không có.

* Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Lê Văn Đ; về con chung: các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; về nợ chung: không có; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn Đ. Ông Đ có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bị đơn ông Lê Văn Đ vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị C và ông Lê Văn Đ tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 401/HT, quyển số 03/2002 ngày 22 tháng 7 năm 2002 nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, phải có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng bà C, ông Đ đã không còn sống chung với nhau. Nhận thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa bà C và ông Đ là trầm trọng, vợ chồng đã sống xa cách, không quan tâm đến nhau trong cuộc sống, quá trình giải quyết ông Đ và bà C đồng ý ly hôn, do đó có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc ly hôn với ông Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà C và ông Đ có 02 (hai) con chung tên Lê Thanh G, sinh ngày 15/9/1991 và Lê Thị Diệu Đ1, sinh ngày 22/9/1993 đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: bà C, ông Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp. Ông Lê Văn Đ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972 được ly hôn với ông Lê Văn Đ, sinh năm 1971.

[2] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003138 ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà Nguyễn Thị C đã nộp đủ án phí.

Ông Lê Văn Đ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[3] Giấy chứng nhận kết hôn số 401/HT, quyển số 03/2002 ngày 22 tháng 7 năm 2002 của Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[4] Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị C và ông Lê Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger