|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày: 26-02-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Thủy
- Bà Đặng Thị Hiền Thục
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Đức N; sinh ngày: 19/3/2001 tại Thành phố Hồ Chí M; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1 đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà: Phan Thị Diễm T; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 20/2/2024 "Gây rối trật tự công cộng" bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024, theo Bản án 223/2024/HS-ST ngày 19/9/2024. Bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại trại giam C.
(Bị cáo có mặt).
Bị hại: Bà Nguyễn Vân H, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: E đường số B, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Đức N, sinh năm 2001 là nhân viên phục vụ của Q ăn Cô Tư Cà M, địa chỉ: B đường H, Phường T, Quận A. Ngày 20/4/2023 khi làm việc tại Quán ăn, bị cáo N nhặt được 01 thẻ tín dụng ngân hàng, số thẻ: 5161 0100 0087 3565, mở tại Ngân hàng Standard Chartered, tên chủ thẻ Nguyễn Vân H. Khoảng 02 giờ ngày 21/4/2023, N đến Cửa hàng T1, E đường T, Phường T, Quận A, mua đồ và sử dụng thẻ trên để số thanh toán tiền 02 lần với tổng số tiền 206.000 đồng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/04/2023, N điều khiển xe máy hiệu Dream, biển số 5353-9806 đến Cửa hàng di động Việt, số C Đường C, Phường A, Quận A, mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax, 256GB, màu vàng, imel: 357853685180821 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax, 256GB, màu tím, imel: 356266769164994, sau đó Phan Đức N sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng nhặt được nêu trên thanh toán với tổng số tiền 59.180.000 đồng.
Ngày 24/4/2023, chị Nguyễn Vân H nhận được thông báo của Ngân hàng Standard Chartered, thẻ tín dụng, số thẻ: 5161010000873565 đã thực hiện 04 giao dịch vào ngày 21/4/2023, với tổng số tiền là 59.386.000 đồng. Chị H kiểm tra thì phát hiện thẻ tín dụng bị mất. Chị H liên hệ Ngân hàng khóa thẻ, sao kê tài khoản, xác định các giao được thực hiện tại cửa hàng D, số C Đường C, Phường A, Quận A với số tiền 59.180.000 đồng và tại Cửa hàng T1, địa chỉ: B T, Phường T, Quận A, với số tiền 206.000 đồng. Ngày 25/4/2023, chị H đến Công an P, Quận A trình báo, sự việc được tiếp nhận chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P giải quyết.
Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P xác định người đã sử dụng trái phép thẻ Ngân hàng của chị Nguyễn Vân H thực hiện các giao dịch nêu trên là Phan Đức N, sinh năm 2001. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P đã ra quyết định truy tìm đối với Phan Đức N. Ngày 20/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, khởi tố bắt tạm giam Phan Đức N về tội “Gây rối trật tự công cộng” và thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P phối hợp điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phan Đức Nguyên K nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai phạm tội của bị cáo phù hợp với sao kê tài khoản, hình ảnh camera thu giữ. Sau khi sử dụng thẻ tín dụng mua được 02 chiếc điện thoại, bị cáo N đã đem điện thoại bán cho tiệm điện thoại trên đường H (không nhớ tên tiệm, địa điểm, địa chỉ) với giá 50.000.000 đồng, số tiền trên đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, bị cáo N đã vứt bỏ thẻ tín dụng của chị H ở khu vực B kênh N.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
01 USB có nội dung ghi hình N thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. (Lưu kèm theo hồ sơ vụ án)
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Vân H yêu cầu bồi thường số tiền 59.386.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSQ10 ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Phan Đức N về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm đ khoản 2, Điều 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông ngoại là người có công với cách mạng) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 290; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Phan Đức N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- - Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- - Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phan Đức N đã có hành vi sử dụng trái phép thẻ tín dụng số thẻ: 5161 0100 0087 3565, mở tại Ngân hàng Standard Chartered, của chị Nguyễn Vân H để thanh toán tiền mua hàng, chiếm đoạt số tiền 59.386.000 đồng. Do vậy, bị cáo Phan Đức N bị truy tố và xét xử về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm đ khoản 2, Điều 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra bị cáo đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này nên Hội đồng xét xử cần tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp về sự an toàn và hoạt động bình thường trong lĩnh vực tin học và ứng dụng các thành tựu của tin học trong đời sống xã hội, xâm phạm đến quyền sỡ hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra bị cáo có thân thân không tốt. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa bị kết án, chưa có tiền án, tiền sự do vậy Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 USB có nội dung ghi hình N thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Lưu kèm theo hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Vân H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 59.386.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo N đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Việc bị cáo bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về án phí (hình sự + dân sự) sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm đ khoản 2, Điều 290; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Phan Đức N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù của Bản án hình sự 223/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Đức N.
Buộc bị cáo Phan Đức N phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Vân H số tiền 59.386.000 (năm mươi chín triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Phan Đức N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 2.969.300 (hai triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn ba trăm) đồng.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
6
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Đức Nguyên phạm tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
