|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thân;
- Ông Lâm Ninh Quốc Hậu.
- Thư ký phiên tòa: bà Lâm Thị Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phan Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 151/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/4/2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXX-ST ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Bích D, sinh năm 1996; cư trú tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
- Bị đơn: anh Nguyễn Phước H, sinh năm 1989; cư trú tại ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/4/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Bích D trình bày:
Vào năm 2018, chị D và anh H tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi đăng ký kết hôn, anh chị sống chung nhà bên chồng tại ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đến năm 2020, vợ chồng bất đầu phát sinh mẫu thuẫn, không tin tưởng về sự chung thủy vợ chồng, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chị đã về nhà của chị ở ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh sinh sống từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy không còn tình cảm vợ chồng nên chị D xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: chị và anh H không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Phước H có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt và đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt;
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của chị Phạm Thị Bích D, chị D được ly hôn với anh Nguyễn Phước H. Về con chung: không có. Về tài sản chung và nợ chung: chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: chị Phạm Thị Bích D và anh Nguyễn Phước H đều có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về hôn nhân:
Chị Phạm Thị Bích D và anh Nguyễn Phước H đã tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 19/4/2018 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị D trình bày: quá trình chung sống vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, ly thân từ năm 2023, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn. Anh H đồng ý ly hôn không nêu rõ nguyên nhân mẫu thuân. Tuy nhiên xét thấy mục đích khi kết hôn là hướng tới xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, tin tưởng lẫn nhau nhưng anh chị không còn chung sống vợ chồng từ năm 2023, không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, mỗi người sống một nơi; chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, chị D được ly hôn với anh H.
[3] Về con chung: không có.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị D không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: chị D phải chịu án phí theo quy định.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Bích D, chị Phạm Thị Bích D được ly hôn với anh Nguyễn Phước H.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Phạm Thị Bích D không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: chị Phạm Thị Bích D chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo theo biên lai thu số 0004917 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chị D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
