|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 25 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Tư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sơn
- Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại hai điểm cầu kết nối trực tuyến, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/HSST ngày 01/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Danh Thanh L, tên gọi khác: ; sinh ngày 16/7/1996; Giới tính: Nam; Nơi sinh: huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Họ và tên cha: Danh Văn X (đã chết); Họ và tên mẹ: Sơn Thị C, sinh năm 1956, ngụ cùng địa chỉ bị cáo.
- Anh, chị, em ruột gồm 08 người, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất là bị can
- Tiền sự: Không; Tiền án: Không
- Bị cáo Danh Thanh L bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/12/2023 cho đến nay.
2. Họ và tên: Danh Nghịch, tên gọi khác: ; sinh ngày 01/01/1990; Giới tính: Nam; Nơi sinh: huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Họ và tên cha: Danh Văn X (đã chết); Họ và tên mẹ: Sơn Thị C, sinh năm 1956, ngụ cùng địa chỉ bị cáo
- A, chị, em ruột gồm 08 người, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1996
- Tiền sự: Không; Tiền án: Không
- Bị cáo Danh N bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/12/2023 cho đến nay.
* Bị hại: Ông Lê Thành T, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
* Người làm chứng:
- Ông Danh Thành L1, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Ông Đặng Trí Anh V, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Chau Thị T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 23/11/2023 ba anh em ruột gồm Danh Thanh L, sinh ngày 16/7/1996, Danh N, sinh ngày 01/01/1990 và Danh Thành L1, sinh ngày 01/01/1993 cùng ngụ ấp N, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng có tổ chức uống bia tại nhà. Trong lúc uống bia thì N có nói lại chuyện trước đó bị anh em của Lê Thành T, sinh ngày 01/01/1992 ngụ cùng ấp dùng tay đánh gây sưng bầm ở vùng cổ, nghe vậy thì L, N và L1 cùng nhau đi tìm anh T để nói chuyện giải quyết mâu thuẩn, nếu không hòa giải được thì đánh nhau bằng tay nhằm trả thù cho N, nhưng không có phân công vai trò, hay bàn bạc gì về việc chuẩn bị hung khí để đánh anh T. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, do L1 có con nhỏ nên dẫn con nhỏ qua nhà người quen để gửi rồi mới quay lại chở L và N đi tìm anh T. Trong lúc L1 đi gửi con thì L đi vào trong buồng lấy áo khoác màu đen mặc vào và đi xuống nhà bếp lấy cây dao yếm dùng trong sinh hoạt gia đình giấu vào bên trong túi áo khoác, còn N đi ra phía nhà sau lấy cây phuộc xe môtô dùng đập nước đá giấu trong áo. Sau khi gửi con xong L1 quay lại điều khiển mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 54P4-3894 chở N ngồi giữa và L ngồi phía sau (L1 không biết việc L và N có mang theo hung khí trong người), lưu thông trên tuyến lộ đal từ nhà đi đến nhà của anh T. Khi đến nhà của T thì N và L1 hỏi ông L2 (là cha ruột của anh T) “Bác ơi, có Tý ở nhà không?”, ông L2 trả lời “nó đi chơi rồi, kiếm nó có gì không?”, L1 nói lại là “không có gì hết, chỉ kiếm T đi chơi thôi”, ông L2 tiếp tục hỏi “mấy con tên gì, để chút T về bác nói lại cho”, lúc này L1 nói “Con tên L1”. Sau đó L1 tiếp tục điều khiển xe chở N và L quay ngược hướng trở về nhà, khi đi về đến đoạn quán cà phê của anh Đặng Trí A Văn ngụ cùng ấp thì gặp anh T đang đứng phía trước quán. Do có mâu thuẩn trước đó, sợ xảy ra chuyện nên khi thấy nhóm anh em của L, N và
L1 thì anh T bỏ chạy vào trong quán, còn L1 điều khiển xe qua khỏi quán khoảng 6-7 mét rồi dừng xe lại. Lúc này L và N xuống xe đi bộ quay lại để kêu anh T đi ra nói chuyện, nhưng anh T nhìn thấy N cầm cây phuộc xe giấu trong áo lú ra ngoài một đoạn nên anh T nói “nói chuyện thì bỏ đồ (cây phuộc xe) đi”. Nghe vậy thì N cầm cây phuộc xe ném bỏ xuống sông phía trước quán và cùng L1, L vào quán của anh V ngồi xuống ghế chung bàn nói chuyện với anh T. Sau khi anh V lấy mấy chai nước Sting do L kêu ra thì L nói với anh T “anh em sao đánh anh N”, anh T trả lời “Tao không sai, tại anh N đánh tao trước”, hai bên nói chuyện qua lại thì phát sinh mâu thuẩn không hòa giải được. Lúc này, L dùng tay phải lấy cây dao từ trong áo khoác ra chém anh T theo hướng từ trên xuống trúng vùng đỉnh đầu bên trái làm T bị ngã té từ ghé xuống nền xi măng, cùng lúc này N nhàu vô câu vật ngồi đè và dùng tay phải đè trước ngực và dùng tay trái đánh trúng sườn bên phải của anh T 2-3 cái, L tiếp tục dùng dao chém anh T theo hướng từ trên xuống, anh T đưa tay trái lên đỡ nên trúng bị thương thêm 04 vết trên bàn tay trái. Lúc này, trên đầu của anh T chảy nhiều máu nên anh V chạy ra la can ngăn và L1 nhàu vô ôm Nghịch từ phía sau kéo ra trong tư thế đứng đối diện mặt với anh T, L vẫn tiếp tục cầm dao chém về hướng của anh T nhưng trúng vào lưng của L1 01 vết. Sau đó anh T vùng chạy thoát vô trong nhà còn L1, L và N bỏ ra phía trước lộ, anh T đứng bên trong chửi và nhặt thanh kim loại trong quán ném ra nhưng không trúng ai. L tiếp tục cầm dao xông vào cửa nhà cặp quán của anh V thì bị chủ nhà la lên can ngăn, đồng thời L nhìn thấy anh T bị chảy nhiều máu ở vùng đầu nên dừng lại, cầm dao đi ra kêu N và anh L1 đi về. Còn anh T được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa thành phố N, tỉnh Hậu Giang cấp cứu và điều trị thương tích đến ngày 29/11/2023 thì ra viện. Sau khi xuất viện anh T làm đơn yêu cầu xử theo pháp luật hình sự đối với những người gây thương tích cho anh. Tại cơ quan điều tra D1 và Danh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 785/KLTTCT-TTPYCT ngày 24/11/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C kết luận: Vết thương vùng đỉnh trái đã được điều trị. Hiện tại vết thương đang lành. Vết thương đốt gần ngón I, vết thương cạnh ngoài đốt gần ngón II, vết thương đốt xa ngón II và vết thương mặt lòng kẽ ngón III, IV bàn tay trái gây đứt gân gấp nông, sâu đã được điều trị phẫu thuật khâu vết thương và khâu nối gân gấp. Hiện tại các vết thương đang lành.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Thành T tại thời điểm giám định là: 06% (sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Tỷ lệ từng vết thương: Vết thương vùng đỉnh trái có tỷ lệ là 02% (hai phần trăm); Vết thương đốt gần ngón I bàn tay trái có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Vết thương cạnh ngoài đốt gần ngón II có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Vết thương đốt xa ngón II bàn tay trái có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Vết thương lòng bàn tay trái vị trí kẽ ngón III, IV có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được ngày 14/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với
Danh Thanh L và Danh N về tội Cố ý gây thương tích và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS- H.KS ngày 30/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách truy tố các bị cáo danh T, Danh N về tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về các hành vi của bị cáo Danh Thanh L, Danh N, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị tuyên bố các bị cáo Danh Thanh L, Danh N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị áp dụng điểm điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo D Thanh Liêm từ 8 tháng đến 10 tháng tù và xử phạt bị cáo Danh N từ 6 tháng đến 8 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự, bị hại Lê Thành T yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 23.500.000 đồng, các bị cáo cũng đồng ý và đã bồi thường 8.000.000 đồng, còn phải bồi thường thêm 15.500.000 đồng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 584, 585, 587, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015, ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại.
Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) cây dao yếm tổng chiều dài 37 cm; phần cán dao bằng gỗ hình tròn chiều dài 13 cm; giữa phần cán dao và phần lưỡi dao có gắn khoen hình tròn; phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, có một bề tù và một bề sắc bén, mũi dao bằng, chiều dài 24 cm; cây dao bị rỉ sét, đã qua sử dụng (đã được niêm phong).
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người làm chứng là ông Đặng Trí Anh V vắng mặt. Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, những lời khai này cũng phù hợp với các lời khai của bị cáo và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa các bị cáo Danh Thanh L và Danh Nghịch công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng, đồng thời bị cáo cũng khai nhận như trên. Cụ thể vào khoảng 18 giờ ngày 23/11/2023 bị cáo L và bị cáo N đã cùng có hành vi gây thương tích cho bị hại Lê Thành T. Xét thấy, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các chứng cứ và tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 785/KLTTCT-TTPYCT ngày 24/11/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Thành T tại thời điểm giám định là: 06% (sáu phần trăm), cụ thể: Vết thương vùng đỉnh trái có tỷ lệ là 02% (hai phần trăm); Vết thương đốt gần ngón I bàn tay trái có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Vết thương cạnh ngoài đốt gần ngón II có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Vết thương đốt xa ngón II bàn tay trái có tỷ lệ là 01% (một phần trăm); Vết thương lòng bàn tay trái vị trí kẽ ngón III, IV có tỷ lệ là 01% (một phần trăm).
[4] Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại Khoản 1 Điều 134 của bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế sách truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[5] Xét thấy, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, chỉ vì mâu thuẫn cá nhân, các bị cáo không bình tĩnh hòa giải với nhau để giải quyết mà lại có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm để gây ra các tổn thương cơ thể cho bị hại, điều này cũng thể hiện ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Hành vi này của các bị cáo phải được xử lý nghiêm minh để các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật, đồng thời cũng để răn đe những trường hợp tương tự có thể xảy ra khi giữa các cá nhân có mâu thuẫn với nhau có ý định sử dụng hành vi tương tự để giải quyết.
[6] Tuy nhiên, để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt để đưa ra một mức án phù hợp cho từng bị cáo.
[7] Bị cáo L và bị cáo N đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại Lê Thành T, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, trước khi phạm tội là người chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo có trình độ học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, ngoài ra, bị cáo L có sống chung như vợ chồng với chị Lâm L3, sinh năm 1990 (địa chỉ: ấp T, xã C, huyện T, tỉnh An Giang) và đang cùng nuôi dưỡng cháu Lâm Gia B, sinh năm 2015 (bị cáo L cho rằng cháu B là con chung của bị cáo và chị L3 nhưng do không đăng ký kết hôn nên giấy khai sinh của cháu B không thể hiện tên cha) đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[8] Trong vụ án, các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc với nhau khi thực hiện hành vi, do đó được xác định là đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo L có hành vi dùng dao trực tiếp chém bị hại, trước khi tìm gặp bị hại để giải quyết mâu thuẫn thì có sự chuẩn bị hung khí trước và khi thực hiện hành vi thì quyết liệt, là người trực tiếp gây ra các thương tích cho bị hại; còn bị cáo N mặc dù trước khi đi có chuẩn bị hung khí nhưng đến nơi đã vứt bỏ hung khí và nên khi đánh nhau với bị hại chỉ dùng tay. Vì vậy, bị cáo L phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N và phải bị cách ly khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với hành vi của bị cáo.
[9] Đối với bị cáo N xét thấy bị cáo N có đủ điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Mặt khác, bị cáo N và L là anh em ruột và có mẹ ruột là người cao tuổi, để bị cáo có điều kiện chăm sóc mẹ thì việc cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.
[10] Về trách nhiệm dân sự, bị hại Lê Thành T yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 23.500.000 đồng bao gồm chi phí điều trị có toa vé là 5.500.000 đồng, chi phí cho người bệnh và người nuôi bệnh 7.500.000 đồng, tiền xe đi lại 1.500.000 đồng, ngày công lao động 1 tháng là 9.000.000 đồng. Xét thấy các bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại, các bị cáo đã bồi thường được 8.000.000 đồng nên còn phải bồi thường thêm 15.500.000 đồng.
[11] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) cây dao yếm tổng chiều dài 37 cm; phần cán dao bằng gỗ hình tròn chiều dài 13 cm; giữa phần cán dao và phần lưỡi dao có gắn khoen hình tròn; phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, có một bề tù và một bề sắc bén, mũi dao bằng, chiều dài 24 cm; cây dao bị rỉ sét, đã qua sử dụng (đã được niêm phong).
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 đồng và liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 775.000 đồng.
[13] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách thực hành quyền công tố tại phiên tòa đối với bị cáo L là có căn cứ phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với bị cáo N là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Danh Thanh L và bị cáo Danh N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 38, điểm a khoản 1, Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 65 và điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt: Bị cáo Danh Thanh L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.
Xử phạt bị cáo Danh N 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 25/4/2024 và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2/. Về Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 587, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Danh Thanh L, Danh N và bị hại Lê Thành T về việc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 23.500.000 đồng, các bị cáo đã bồi thường 8.000.000 đồng nên còn phải liên đới bồi thường thêm 15.500.000 đồng.
2/ Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) cây dao yếm tổng chiều dài 37 cm; phần cán dao bằng gỗ hình tròn chiều dài 13 cm; giữa phần cán dao và phần lưỡi dao có gắn khoen hình tròn; phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, có một bề tù và một bề sắc bén, mũi dao bằng, chiều dài 24 cm; cây dao bị rỉ sét, đã qua sử dụng (đã được niêm phong).
3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 135 và khoản 2, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Danh Thanh L, Danh Nghịch mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Danh Thanh L, Danh N phải liên đới chịu là 775.000 đồng
4/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Tư |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về vụ án hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích
