|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 24/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Long;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đinh Quốc Minh - Hiệu trưởng trường THCS xã Yên Đổ
- Bà Đặng Thị Đào - Bí thư Đoàn TNCS thị trấn Giang Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Tuyết- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Việt A, tên gọi khác không, sinh 04/11/1988, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Nơi cư trú và chỗ ở: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Họ và tên bố: Vũ Văn N - đã chết; Họ và tên mẹ: Vũ Thị P - đã chết.
Chưa có vợ, con.
Tiền án: 02
- Tại bản án số 100/2017/HSST ngày 10/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Vũ Việt A 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/10/2019.
- Tại bản án số 23/2020/HSST ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Vũ Việt A 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 13/01/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 84/2012/HS-St ngày 06/9/2012, Vũ Việt A bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 08/7/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2023. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1993, địa chỉ: Xóm L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1981, địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1976, địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ ngày 24/12/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm P, xã H đã ra hiệu lệnh dừng xe mô tô BKS 20C1-326.83 do Vũ Việt A điều khiển, phía sau chở Ngô Văn Đ. Sau khi dừng phương tiện, tổ công tác yêu cầu Việt A xuống xe để kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện, thì Ngô Văn Đ đã ngồi dồn lên phía trước nổ máy xe máy nhằm bỏ chạy, thì bị tổ công tác ngăn chặn lại. Vũ Việt A đã vứt 03 gói chất bột màu trắng, trong đó 02 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu trắng ở lề đường. Ngay lúc đó, anh Hoàng Văn C và cháy Hoàng Trung H (con trai anh C) đang đứng cách đó khoảng 1,2m nhìn thấy, anh C tri hô lên “Cái ông này vứt cái gì ra đây”. Thượng úy Nguyễn Mạnh H1 kiểm tra phát hiện tại gần vị trí Anh đứng có 03 gói nhỏ chất bột màu trắng nghi là H2. Kiểm tra người Vũ Việt A thu giữ 03 xi lanh nhựa đã qua sử dụng, 01 điện thoại Nokia và 1.350.000 đồng. Kiểm tra người Ngô Văn Đ thu giữ 02 xi lanh nhựa và xe máy BKS 20C1- 326.83 và lập biên bản sự việc chuyển cơ quan CSĐT- Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 00 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại Phòng K Công an tỉnh T, cân xác định 03 gói chất bột màu trắng, được niêm phong thu giữ có khối lượng 0,416 gam. Niêm phong toàn bộ gửi giám định ký hiệu H1.
Tại Kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, có khối lượng là 0,416gam.
Quá trình điều tra làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 08 giờ ngày 24/12/2023 Vũ Việt A gặp Ngô Văn Đ tại ngã ba B, thuộc xã B huyện Đ. Tại đây Việt A rủ Đ đi xuống khu vực thành phố T mua ma túy về sử dụng. Đ đồng ý và giao xe mô tô BKS 20C1 - 326.83 cho Việt A điều khiển. Khi xuống đến bến xe khách T thì Việt A bảo Đ đứng chờ còn Việt A đi vào trong khu vực bến xe. Tại đây Việt A mua của một người đàn ông không quen biết 04 gói nhỏ chất ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Việt A ra chỗ Đ đang đứng, nói với Đ đã mua được ma túy và rủ Đ vào nhà vệ sinh để sử dụng. Tại nhà vệ sinh, Việt A lấy ra 01 gói ma túy ra pha chế vào xi lanh sau đó chia cho Đ ½ vào xi lanh khác để cả hai cùng sử dụng. Sau khi sử dụng xong Việt A điều khiển xe máy đi về. Khi đến xã H thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện P yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn. Khi xuống xe V đã vứt 03 gói ma túy còn lại xuống đường thì bị phát hiện. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc ngay tại chỗ.
Tại bản cáo trạng số 29/CT- VKSPL ngày 27/5/2024, Viện Kiểm sát nhân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Việt A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Việt A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Vũ Việt A mức án từ 06 đến 07 năm tù.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng là ma túy và vỏ giấy gói; Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia và số tiền 1.350.000 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh tụng: Bị cáo không có tranh tụng gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội:
- Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Sáng ngày 24/12/2023 bị cáo gặp Ngô Văn Đ tại ngã ba B thuộc xã B, huyện Đ. Bị cáo rủ Đ đi xuống khu vực thành phố T mua ma túy để sử dụng. Đ đồng ý và giao xe mô tô BKS 20C1 - 326.83 cho bị cáo điều khiển. Khi xuống đến bến xe khách T, bị cáo vào khu vực bến xe mua của một người đàn ông không quen biết 04 gói nhỏ chất ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo rủ Đ vào nhà vệ sinh để sử dụng. Tại nhà vệ sinh, bị cáo lấy ra 01 gói ma túy ra pha chế vào xi lanh sau đó chia cho Đ ½ vào xi lanh khác để cả hai cùng sử dụng. Sau khi sử dụng xong bị cáo điều khiển xe máy đi về. Khi đến xã H thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện P yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn. Khi xuống xe bị cáo đã vứt 03 gói ma túy còn lại xuống đường thì bị phát hiện. Việc bị cáo mua bao nhiêu ma túy, sau khi sử dụng xong, còn lại bao nhiêu, bị cáo còn tàng trữ ma túy trong người hay không thì Đ hoàn toàn không biết. Trước khi đi bị cáo chỉ rủ Đ đi mua ma túy để sử dụng.
- Lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Hữu L và Hoàng Văn C.
- Kết luận giám định xác định gói chất bột màu trắng thu giữa của Anh là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,416 gam.
- Biên bản sự việc.
Như vậy, Vũ Việt A có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi tàng trữ 0,416 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân, khi A có 02 tiền án về tội ma túy chưa được xóa án tích, hành vi đó đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm
o, Tái phạm nguy hiểm.”
Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
[3] Xét tính chất của bị cáo là rất nghiêm trọng. Hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vì nghiện ma túy nên đã tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo còn làm mất trật tự, an toàn xã hội.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là người phạm tội thành khẩn khai báo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án nhiều lần về tội phạm liên quan đến ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, sau khi ra trại lại tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần xử bị cáo mức án 06 năm đến 07 năm tù như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp,
Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án: Số vật chứng là ma túy và vỏ giấy gói, xi lanh nhựa cần tiêu hủy theo quy định của pháp luật. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và số tiền 1.350.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Trong vụ án này, người bán ma túy cho Vũ Việt A, Việt A không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Ngô Văn Đ giao xe máy của mình cho Vũ Việt A và cùng Vũ Việt A đi mua ma túy để sử dụng. Sau khi sử dụng xong Đ không biết Việt A còn tàng trữ ma túy, Đ không góp tiền mua ma túy do vậy chưa đủ yếu tố đồng phạm với Việt A.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điều 38; Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136; 329; 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội .
1. Xử phạt bị cáo Vũ Việt A 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,414 gam mẫu H1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H2, bên ngoài ghi: Mẫu lưu kho bên trong có vỏ bì niêm phong A và các vỏ giấy; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có 03 (ba) xi lanh nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H4, bên ngoài ghi: Bên trong có 02 (hai) xi lanh nhựa màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn Đ ngày 24/12/2023.
- Hoàn trả bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ, bên trong lắp 02 sim số là 0817029616 và 0375874662 được niêm phong ký hiệu A3 và số tiền 1.350.000 đồng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương; Phiếu ủy nhiệm chi số 71 ngày 03/6/2024).
3. Về án phí: Buộc bị cáo A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Đức Long |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Việt A
