Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày: 24-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Thanh Hảo
  2. Ông Phạm Phước Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Ngô Minh Tư - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ A, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; chổ ở hiện nay: số B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Võ Hồng X, sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà T, bà X có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Kim T trình bày:

Ngày 01/02/2022 bà Võ Thị Kim T có cho bà Võ Hồng X vay số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, có làm biên nhận nợ, thoả thuận trả trong vòng 02 năm kể từ ngày 01/02/2022 đến ngày 01/02/2024 nhưng kể từ ngày vay cho đến nay bà X chỉ trả được số tiền 26.000.000 đồng.

Do đó bà T khởi kiện yêu cầu bà Võ Hồng X trả lại số tiền còn nợ 124.000.000 (một trăm hai mươi bốn triệu) đồng và tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 01/02/2024 cho đến khi Toà án xét xử.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà T cung cấp: Biên nhận ngày 01/02/2022.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Võ Hồng X trình bày: bà X thừa nhận có vay bà Võ Thị Kim T số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, có ký Biên nhận nợ. Quá trình vay bà X đã trả được số tiền 26.000.000 đồng thì ngưng trả cho đến nay.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim T, bà X thừa nhận còn nợ bà T số tiền 124.000.000 (một trăm hai mươi bốn triệu) đồng. Hiện do hoàn cảnh khó khăn xin được trả dần trả mỗi tháng 500.000 (năm trăm nghìn) đồng cho đến khi trả hết số nợ cho bà T.

Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự, các đương sự thống nhất về vốn vay nhưng không thống nhất được về phương thức thanh toán.

Tại phiên tòa,

- Ý kiến của nguyên đơn bà Võ Thị Kim T: Chỉ yêu cầu bà Võ Hồng X trả một lần số tiền 124.000.000 đồng vốn theo biên nhận ngày 01/02/2022, không yêu cầu tính lãi.

- Ý kiến của bị đơn bà Võ Hồng X: Bà đã vay của bà T nhiều lần, những lần trước bà có trả lãi đầy đủ nhưng do hoàn cảnh khó khăn không thực hiện việc trả nợ theo như thỏa thuận, nên làm biên nhận ngày 01/02/2022; nay bà thừa nhận còn nợ của bà T 124.000.000 đồng, xin được trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi trả hết nợ cho bà Võ Thị Kim T.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng việc thỏa thuận vay nợ giữa các bên là tự nguyện, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, việc bà T khởi kiện yêu cầu bà X có trách nhiệm trả một lần số tiền vốn vay còn lại 124.000.000 (một trăm hai mươi bốn triệu) đồng và lãi suất là có căn cứ.

Việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tiền lãi là thuộc phạm vi khởi kiện và phù hợp quy định pháp luật.

Đối với việc bà X xin trả dần mỗi tháng 500.000 (năm trăm nghìn) đồng cho đến khi trả hết nợ, do hoàn cảnh khó khăn, không được bà T chấp nhận nên không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay 124.000.000 (một trăm hai mươi bốn triệu) đồng; Căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T đối với bà X về yêu cầu tính lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Võ Thị Kim T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn Võ Hồng X có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp dân sự về vay tài sản bằng tiền, nên xác định là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự.

Về nội dung:

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Do quen biết nên Bà Võ Thị Kim T cho bà Võ Hồng X vay số tiền số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay là 02 tháng theo biên nhận ngày 01/02/2022; sau khi vay bị đơn đã trả được 26.000.000 đồng, bị đơn thừa nhận còn nợ lại 124.000.000 đồng; do hoàn cảnh khó khăn xin được trả dần 500.000đồng/tháng đến khi dứt nợ.

Xét: Giữa các bên xác lập hợp đồng vay từ ngày 01/02/2022, thời hạn trả là 02 năm (từ ngày 01/02/2022 đến ngày 01/02/2024), việc thỏa thuận hợp đồng vay này là có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Việc giao kết hợp đồng vay trên cơ sở tự nguyện; nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Căn cứ Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

[4] Về yêu cầu tính lãi suất: Nguyên đơn cho rằng, việc bị đơn còn nợ số tiền vốn vay 124.000.000đồng là vi phạm nghĩa vụ nên yêu cầu tính lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật từ ngày 01/02/2024 cho đến khi xét xử.

Tại khoản 1 và khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;

....

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Do bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên phải chịu tiền lãi chậm trả là 10%/năm (0,833%/tháng), kể từ ngày chậm thực hiện nghĩa vụ (ngày 01/02/2024) theo quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự là phù hợp.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả vốn 124.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

[5] Xét yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T xác định rút lại một phần yêu cầu tính lãi suất đối với bị đơn bà X. Yêu cầu này phù hợp theo phạm vi khởi kiện, nên có cơ sở đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

Bị đơn có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 6.200.000 đồng.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244, 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim T đối với bị đơn bà Võ Hồng X.

Buộc bà Võ Hồng X có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Kim T số tiền 124.000.000 (Một trăm hai mươi bốn triệu) đồng.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim T đối với bị đơn bà Võ Hồng X về tiền lãi suất của tiền vốn 124.000.000 đồng.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Võ Thị Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà T số tiền 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên số 0003329 ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C.

Bà Võ Hồng X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.200.000 (sáu triệu hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn bà Võ Thị Kim T và bị đơn bà Võ Hồng X có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger