Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm, ông Trần Quang Đạt.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa – Kiểm sát viên Trung cấp.

Vào ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Ngọc P, sinh ngày 04/01/1979 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không (bị cáo khai tại phiên tòa: Làm nông và làm biển). Trình độ học vấn: 06/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Lê Ngọc X, sinh năm 1959 và bà Phan Thị T, sinh năm 1959; Có vợ tên Trương Thị Thanh T1, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2004. Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 26/12/1996, bị Toà án nhân dân thị xã Tuy Hòa tuyên phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của công dân, quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985.
  • Ngày 21/02/2002, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi đánh nhau.
  • Ngày 19/6/2007, bị Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên tuyên phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bị bắt tạm giam từ ngày 17/10/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa.

1

*Người bị hại: 1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H gồm có:

  • Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  • Cháu Nguyễn Thị Thu T3, sinh ngày 02/10/2012 và cháu Nguyễn Văn S, sinh ngày 05/02/2008, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên do chị T2 là người giám hộ, đại diện theo pháp luật. Chị T2 có mặt.
  • Dương Thị S1, sinh năm 1964, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên ủy quyền cho chị Nguyễn Thị T2 đại diện (Giấy ủy quyền ngày 15/8/2023 có chứng thực của UBND xã A). Chị T2 có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị T2: Luật sư Trần Thị Như T4, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, Văn phòng L1; địa chỉ: C N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

2. Nguyễn L, sinh năm 1979, nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn L: Luật sư Trần Ngọc Q, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, Văn phòng L1; địa chỉ: C N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị T2 và Nguyễn L: Luật sư Bùi Thị Mỹ H1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, Văn phòng L1; địa chỉ: C N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phan Thị T, sinh năm 1959, nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người làm chứng: 1. Võ Thi N, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

2. Nguyễn Văn S, sinh năm 2008, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người giám hộ của cháu Nguyễn Văn S có mẹ ruột là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

3. Nguyễn Thị D, sinh năm 1982, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/10/2022, Lê Ngọc P đến ngồi nói chuyện với Nguyễn Văn H tại ghế đá trong sân nhà của H ở thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cùng với Nguyễn L (là anh rể của H), Nguyễn Thị T2 (là vợ của H) và Võ Thị N thì giữa H và P xảy ra mâu thuẫn cãi vã lớn tiếng với

2

nhau về việc nợ tiền. H dùng tay trái cầm chai rượu bằng thủy tinh ở gần đó đập vào vùng đầu bên trái của P làm vỡ chai rồi dùng phần chai vỡ đâm 01 nhát trúng vùng thái dương bên trái của P gây thương tích. P dùng tay trái giữ tay trái của H, tay phải lấy con dao trong túi quần, bấm cho lưỡi dao bật ra đâm 01 nhát vào vùng hông nách bên trái của H, T2 ôm H kéo ra, L cũng kéo đẩy P ra can ngăn. P cầm dao quay người lại chém 01 nhát trúng vào tay phải và đâm 01 nhát vào vùng hông nách bên phải của L. T2 thấy P có dao nên hô la thì H chạy về phía nhà sau, P cầm dao đuổi theo H. Khi đến gần nhà tắm, H quay người lại đối diện với P và dùng một vật (không xác định được) đâm trúng cằm P gây thương tích. P dùng dao đâm 01 nhát vào vùng ngực bên phải của H và đẩy H té ngã vào nhà tắm thì cháu Nguyễn Văn S (là con của H) cùng với T2 can ngăn đẩy P ra. H đi đến gần khu vực chuồng bò sau nhà thì ngã xuống đất, được đưa đi cấp cứu nhưng H đã chết.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 204 ngày 07/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Văn H: sốc mất máu cấp do thủng tim, vật tác động: Vật sắc nhọn + vật tày.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 482 ngày 21/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tại thời điểm giám định thương tích của Nguyễn Lý là 04%, vật tác động: Vật có cạnh sắc.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 468 ngày 12/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Ngọc P tại thời điểm giám định là 18%, vật tác động: Vật có cạnh sắc.

Ngày 19/12/2023, Nguyễn L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số: 25/CT – VKSPY – P1 ngày 20/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Lê Ngọc P về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 2, Điều 123; Điểm a, i Khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc P vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc P phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 2, Điều 123; Điểm a, i Khoản 1, Điều 134; Điểm b, s, Khoản 1, Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Lê Ngọc P từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù về tội “Giết người” và từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/10/2022).

3

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590, 591 Bộ luật Dân sự;

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường đối với yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn H. Buộc bị cáo Lê Ngọc P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng của anh Nguyễn Văn H bị xâm phạm cho đại diện hợp pháp của bị hại do chị Nguyễn Thị T2 đại diện nhận số tiền 274.600.000đ, bị cáo đã bồi thường trước số tiền 5.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 269.600.000đ. Buộc bị cáo Lê Ngọc P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con của anh H là cháu Nguyễn Thị Thu T3, sinh ngày 02/10/2012 và cháu Nguyễn Văn S, sinh ngày 05/02/2008 mỗi cháu 2.000.000đ/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 16/10/2022 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường đối với yêu cầu của bị hại anh Nguyễn Lý. Buộc bị cáo Lê Ngọc P phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Lý s tiền 49.165.317đ về khoản thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm. Bị cáo đã bồi thường trước số tiền 2.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 47.165.317đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý, cụ thể:

Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao bấm) dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất 2,7cm; - 08 (tám) chất màu nâu thẫm thu tại hiện trường tại vị trí số 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9; - Mẫu máu tử thi Nguyễn Văn H; - Mẫu máu bị hại Nguyễn L; - Mẫu máu bị cáo Lê Ngọc P; - Một số mảnh vỡ thủy tinh thu tại hiện trường; - 01 (một) đôi dép màu đen hiệu “ASIA” số 08, dài 27cm, nơi rộng nhất 10cm.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị T2 và Nguyễn Lý l Luật sư Bùi Thị Mỹ H1 trình bày: Thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Về phần bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T2, anh L và ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo P đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị T2, anh L tại phiên tòa.

Bị cáo Lê Ngọc P nói lời sau cùng, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

4

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị T2 là Luật sư Trần Thị Như T4 và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn L là Luật sư Trần Ngọc Q đều vắng mặt. Tuy nhiên, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Lý đ trình bày do đã có Luật sư Bùi Thị Mỹ H1 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị T2, Nguyễn Lý t phiên tòa nên không ý kiến gì về sự vắng mặt của Luật sư T2, Luật sư Q. Đối với người làm chứng Võ Thi N vắng mặt, tuy nhiên, Võ Thi N đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của Võ Thi N không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Ngọc P tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị T2 là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H, lời khai của bị hại Nguyễn L và lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/10/2022, tại thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, Lê Ngọc PNguyễn Văn H cãi vã với nhau về việc nợ tiền thì Nguyễn Văn H đã dùng chai thuỷ tinh đánh, đâm Lê Ngọc P gây thương tích với tỷ lệ 18%. Lê Ngọc P đã có hành vi dùng dao đâm vào ngực Nguyễn Văn H làm Nguyễn Văn H chết. Nguyễn Lý can ngăn thì bị Lê Ngọc P dùng dao chém trúng tay và đâm trúng vùng nách gây thương tích tỷ lệ 04% nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Lê Ngọc P về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 2, Điều 123; Điểm a, i Khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an – an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội nên đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H số tiền 5.000.000₫ và bồi thường cho bị hại Nguyễn Lý số tiền 2.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả; nguyên nhân

5

bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại Nguyễn Văn H nên xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình cho phù hợp. Bị cáo cùng lúc phạm nhiều tội nên áp dụng quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn HNguyễn Thị T2 yêu cầu bị cáo Lê Ngọc P phải bồi thường số tiền 274.600.000đ về khoản thiệt hại về tính mạng bị xâm phạm. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại còn yêu cầu bị cáo Lê Ngọc P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Thị Thu T3, sinh ngày 02/10/2012 và cháu Nguyễn Văn S, sinh ngày 05/02/2008 mỗi tháng mỗi cháu 2.000.000đ, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 10/2022. Người bị hại Nguyễn L yêu cầu bị cáo Lê Ngọc P phải bồi thường số tiền 49.165.317đ về khoản thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm. Bị cáo Lê Ngọc P đồng ý bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H và đồng ý bồi thường thiệt hại yêu cầu của bị hại Nguyễn Lý. Xét thấy, sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của bị cáo Lê Ngọc P và đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H, sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại của bị cáo Lê Ngọc P và bị hại anh Nguyễn L phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với: - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao bấm) dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất 2,7cm; - 08 (tám) chất màu nâu thẫm thu tại hiện trường tại vị trí số 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9; - Mẫu máu tử thi Nguyễn Văn H; - Mẫu máu bị hại Nguyễn L; - Mẫu máu bị cáo Lê Ngọc P; - Một số mảnh vỡ thủy tinh thu tại hiện trường; - 01 (một) đôi dép màu đen hiệu “ASIA” số 08, dài 27cm, nơi rộng nhất 10cm, được thu giữ là công cụ phạm tội, mẫu vật thu giữ để trưng cầu giám định, vật liên quan đến tội phạm nhưng không còn giá trị sử dụng và chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc P bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Lê Ngọc P còn phải bồi thường thiệt hại và thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc P phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2, Điều 123; Điểm a, i Khoản 1, Điều 134; Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc P 10 (mười) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của hai

6

tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/10/2022).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590, 591 Bộ luật Dân sự;

- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Lê Ngọc P và đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H là chị Nguyễn Thị T2.

+ Bị cáo Lê Ngọc P có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H do chị Nguyễn Thị T2 đại diện nhận số tiền 274.600.000đ về khoản thiệt hại do tính mạng xâm phạm, bị cáo đã bồi thường trước số tiền 5.000.000₫ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 269.600.000₫ (Hai trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Chị Nguyễn Thị T2 được nhận số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) do bị cáo Lê Ngọc P bồi thường (bà Phan Thị T nộp thay) theo Biên lai số 0000274 ngày 15/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

+ Bị cáo Lê Ngọc P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Thị Thu T3, sinh ngày 02/10/2012 và cháu Nguyễn Văn S, sinh ngày 05/02/2008 mỗi tháng mỗi cháu 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 10/2022 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Lê Ngọc P và bị hại Nguyễn Lý. Bị cáo Lê Ngọc P có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Lý số tiền 49.165.317đ về khoản thiệt hại do sức khỏe của bị xâm phạm. Bị cáo đã bồi thường trước số tiền 2.000.000₫ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 47.165.317₫ (Bốn mươi bảy triệu, một trăm sáu mươi lăm nghìn, ba trăm mười bảy đồng).

Bị hại Nguyễn L được nhận số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) do bị cáo Lê Ngọc P bồi thường (bà Phan Thị T nộp thay) theo Biên lai số 0000273 ngày 15/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

7

Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) con dao bằng kim loại (loại dao bấm) dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, nơi rộng nhất 2,7cm; - 08 (tám) chất màu nâu thẫm thu tại hiện trường tại vị trí số 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9; - Mẫu máu tử thi Nguyễn Văn H; - Mẫu máu bị hại Nguyễn L; - Mẫu máu bị cáo Lê Ngọc P; - Một số mảnh vỡ thủy tinh thu tại hiện trường; - 01 (một) đôi dép màu đen hiệu “ASIA” số 08, dài 27cm, nơi rộng nhất 10cm.

(Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Ngọc P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 15.838.000đ (Mười lăm triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng.

Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn H, bị hại anh Nguyễn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Chùm

Đạt

Nguyễn Việt Hùng

Trần Quang

8

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ CSĐT CA. tỉnh Phú Yên;
  • - Phòng HSNV Công tỉnh Phú Yên;
  • - PC 11 Công an tỉnh Phú Yên;
  • (02 bản – giao Bc Phương 01 bản);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - CQTT, NTGTT;
  • - P. KTNV THAHS;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (giết người và cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người và Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án - HSST - LÊ NGỌC P- giết người - CT HÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger