|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Bà Trần Thị Tím
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 385/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm 1987 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Bà Thạch Thị M, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 05/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Thanh T trình bày: Vào năm 2013 ông và bà Thạch Thị M do quen biết tìm hiểu và được hai bên gia đình cho phép tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến ngày 22/7/2014 thì có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo giấy chứng nhận kết hôn số 54, quyển số 01/2014. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau có 01 đứa con chung tên Võ Hoàng N, sinh ngày 29/3/2014. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng sống có hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, cho đến năm 2018 thì giữa vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng rạn nứt, bà M bỏ nhà đi và vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Thạch Thị M vì ông nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà M không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; về con chung ông nhận nuôi cháu Võ Hoàng N mà không yêu cầu bà Thạch Thị M cấp dưỡng nuôi con do từ khi ông và bà Thạch Thị M ly thân đến nay cháu N sống với ông. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn, bà Thạch Thị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày và ngày 21/12/2023 và ngày 28/3/2024 nhưng bà Thạch Thị M vắng mặt không lý do, ông Võ Thanh T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử; Tòa án triệu tập bà Thạch Thị M tham gia phiên tòa ngày 05/4/2024 và phiên tòa hôm nay nhưng bà M vẫn vắng mặt không lý do nên không có lời khai.
Ý kiến của cháu Võ Hoàng N tại bản tự khai ngày 06/10/2023: Hiện tại cháu đang sống với cha là ông Võ Thanh T, sau khi cha và mẹ của cháu được Tòa án giải quyết cho ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống với cha là ông Võ Thanh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tòa án đã thực hiện việc tống đạt cho bị đơn bà Thạch Thị M các văn bản tố tụng từ khi thụ lý, thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời, nguyên đơn ông Võ Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227 và 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: ông Võ Thanh T và bà Thạch Thị M xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 22/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (Giấy chứng nhận kết hôn số 54, quyển số 01/2014) theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân của ông Võ Thanh T và bà Thạch Thị M là hợp pháp. Theo lời khai của ông Võ Thanh T thì sau khi kết hôn vợ chồng sống có hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, cho đến năm 2018 thì giữa vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng rạn nứt, bà M bỏ nhà đi và vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, thuyết phục để tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn, đoàn tụ xây dựng gia đình nhưng không đạt kết quả do bà Thạch Thị M không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh T. Ông Võ Thanh T kiên quyết ly hôn, thời gian ly thân từ năm 2018 đến nay không ai tạo điều kiện hàn gắn, chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Võ Thanh T được ly hôn với bà Thạch Thị M theo yêu cầu một bên.
[3] Về con chung: cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 29/3/2014, sau khi ông T và bà M ly thân thì cháu N sống chung với ông T cho đến nay. Xét thấy việc ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N là phù hợp với nguyện vọng của cháu N nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: ông Võ Thanh T khai không có nên không giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 177, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điều 56, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh T về việc yêu cầu ly hôn với bà Thạch Thị M.
- Về con chung: Giao cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 29/3/2014 cho ông Võ Thanh T tiếp tục nuôi, bà Thạch Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với người trực tiếp nuôi. Vì lợi ích của con, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Võ Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018524, ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú. Bị đơn bà Thạch Thị M không phải chịu án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Duyên |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
