Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 24 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lâm Giang.
  2. Ông Giáp Hồng Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Kiểm sát viên trung cấp;

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 5 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh ngày 17/9/2005, tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Trần Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có; bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị D, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trương Văn Q, sinh năm 1986, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Ngô Thế T2, sinh năm 1962, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 03/01/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại thôn D, xã L, huyện T có đối tượng

nam giới nghi vấn sản xuất, buôn bán hàng cấm (nghi là pháo nổ). Cơ quan điều tra Công an huyện T đã phối hợp với Công an xã L tiến hành kiểm tra bắt quả tang đối tượng Vũ Văn T đang bê 01 thùng cát tông tại bãi cỏ cánh đồng B thuộc thôn D, xã L, huyện T để chờ người đến mua. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong thùng cát tông, sau đó đưa Vũ Văn T cùng vật chứng về trụ sở Công an xã L, huyện T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

- T3 tại bãi cỏ cánh đồng B thuộc thôn D, xã L, huyện T 01 (một) thùng cát tông có vỏ ngoài in chữ “CHIN-SU” bên trong đựng nhiều vật có hình dạng giống nhau đặc điểm: Hình trụ tròn, chiều dài 5cm, đường kính 2cm, được quấn bằng giấy màu đỏ, phía ngoài in chữ “Vạn Sự Như Ý” màu vàng, một đầu được bịt kín bằng giấy màu trắng, một đầu được gắn dây dẫn màu trắng bạc, các vật hình trụ trên được liên kết với nhau thành dây nghi là “pháo nổ” được niêm phong ký hiệu “QT”.

- Thu giữ của Vũ Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, số imei 356543100554574, lắp sim số 0963.204.010; 0965.586.101, được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín có chữ ký các thành phần tham dự ở mép phong bì.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn T, kết quả khám xét thu giữ:

- Thu giữ tại nền nhà phòng ngủ bên phải tầng hai nhà Vũ Văn T:

  • 183 (một trăm tám mươi ba) khối hình trụ tròn bên trong rỗng màu đỏ quấn bằng nhiều lớp giấy mầu đỏ bên ngoài có hình cây tre và có chữ “Vạn sự ý” màu vàng.
  • 01 (một) gói bột màu xám đựng trong túi ni lon màu đen.
  • 01 (một) túi bột màu vàng đựng trong túi ni lon màu đen bên ngoài được quấn bằng băng dính màu vàng.

- Thu giữ tại phòng ngủ tầng hai bên trái:

  • 02 (hai) đoạn dây màu hồng, 01 (một) đoạn dây màu xanh, 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại chuôi bọc nhựa màu xanh.
  • 01 (một) túi bột màu xám, 04 (bốn) lọ keo 502 cũ đã qua sử dụng, 01 (một) cuộn giấy vệ sinh màu trắng, 01 (một) cuộn giấy bóng (màng bọc thực phẩm).
  • 01 (một) chiếc tô vít bốn cạnh, cán màu cam và màu đen được thu giữ trên bàn học tại phòng ngủ.

- Thu giữ tại phòng ngủ tầng một bên trái:

  • 229 (hai trăm hai mươi chín) khối hình trụ tròn bên trong rỗng, màu đỏ được quấn bằng nhiều lớp giấy mầu đỏ, bên ngoài có hình cây tre và có chữ “Vạn sự như ý” màu vàng.

Toàn bộ 412 khối hình trụ tròn màu đỏ được kết nối với nhau bằng nhiều lớp bên ngoài có hình cây tre và chữ “Vạn sự như ý” được niêm phong trong thùng bìa cát tông có chữ “HEO CAO BỒI”, “BIN&BON”.

02 đoạn dây màu hồng, 01 đoạn dây màu xanh; 02 gói bột màu xám; 01 túi bột màu vàng được niêm phong trong thùng bìa cát tông màu đỏ, trắng có chữ "TAKO" "W-666” màu đỏ.

01 cuộn giấy bóng; 01 chiếc kéo, 01 chiếc tô vít; 04 lọ keo 502; 01 cuộn giấy vệ sinh được niêm phong trong hộp cát tông màu vàng một góc có chữ “SAM DUNG” và nhiều chữ nước ngoài.

Quá trình điều tra, Vũ Văn T khai nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Khoảng tháng 3/2023, Vũ Văn T điều khiển xe mô tô qua địa phận xã A thì bị hỏng xe, T dắt bộ thì gặp một người thanh niên khoảng 20 tuổi giới thiệu tên là T4, sinh năm 2007 nhà ở Lào Cai. Thấy T dắt xe T4 bảo Trọng ngồi lên xe để T4 đẩy ra cửa hàng sửa xe, khi đẩy xe ra đoạn đường Q thì T dừng xe kiểm tra và lau chùi bugi khởi động lại thì xe nổ máy, T mời T4 xuống ngã ba thị trấn C uống nước, T4 đồng ý. Khi T và T4 ngồi uống nước tại một quán trà đá ở ngã ba thị trấn C, huyện T thì có một người bạn của T4 đến ngồi uống nước cùng, T4 giới thiệu tên là H. Trong khi uống nước thì H nói muốn mua pháo nổ mà không biết mua ở đâu, do đã xem hướng dẫn cách làm pháo nổ trên mạng nên T nói với H là có thể làm được pháo nổ nhưng không có tiền mua nguyên liệu. H cho T xem ảnh mẫu quả pháo nổ hình trụ tròn quấn bằng giấy màu đỏ, bịt kín hai đầu, có đầu bằng dây dẫn trên điện thoại và hỏi T có làm được như hình này không, H sẽ đưa tiền cho T mua nguyên liệu, sau khi sản xuất được pháo thì sẽ mua lại, T đồng ý. H đưa trước cho T 2.500.000 đồng để mua nguyên liệu làm pháo, sau khi nhận pháo H sẽ trả cho T 4.400.000 đồng, nếu làm đẹp thì H sẽ cho thêm 100.000 đồng, sau đó H mượn điện thoại của T kết bạn zalo với T có tên zalo là “Hưng Nguyễn”, H bảo khi nào làm xong thì sẽ liên hệ để lấy pháo. Về nhà T lên mạng Facebook tìm đặt mua vỏ pháo đã quấn sẵn màu đỏ, ruột rỗng, in chữ

tre và dây cháy chậm loại màu xanh và màu hồng, T đặt mua vỏ pháo và quận dây dẫn cháy chậm để kết các quả pháo thành tràng pháo với tổng số tiền là 2.400.000 đồng và lên Shoppe tìm mua 0,5kg bột Lưu huỳnh (S) 0,7kg Kali clorat (KclO3) với số tiền là 120.000 đồng. Sau khi đặt vài hôm thì có nhân viên giao hàng đến giao cho T nguyên liệu làm pháo, T cất giấu ở tầng 2 của gia đình, do T không thấy người đàn ông tên H nhắn lại nên T chưa dồn thuốc.

Tối ngày 02/01/2024, H nhắn tin qua tài khoản zalo “Hưng N” đến tài khoản zalo “Vũ Văn T” đăng nhập bằng số điện thoại 0963.204.xxx bảo Trọng là “Anh về rồi” tối mai anh lấy pháo và hẹn T mang pháo ra Nhà văn hóa thôn C, xã L để giao pháo, H sẽ trả tiền cho T. Đêm ngày 02/01/2024 T lấy các nguyên liệu đã mua sẵn từ trước để ở phòng để đồ tầng 2 của gia đình, do túi nilon đựng Kali clorat bị rách nên T đã lấy túi ni lon bọc bên ngoài túi đựng bột nhôm ở trong túi dùng để trộn nguyên liệu. T lấy 0,2 kg bột lưu huỳnh (S) trộn với 0,7kg Kali clorat (KclO3) với một lượng nhỏ than củi nghiền nhỏ đổ vào túi nilon có bám dính một ít bột nhôm rồi trộn đều tạo thành thuốc pháo. Sau khi trộn thuốc pháo xong, T lấy mảnh giấy xúc thuốc pháo trải đều trên cuộn giấy nilon màng bọc thực phẩm, xoắn chắc lại, dùng kéo cắt thành từng đoạn dây làm ngòi pháo, xúc thuốc pháo đổ vào các vỏ pháo, lấy giấy vệ sinh vo tròn bịt kín, dùng keo 502 dán kín phần đầu để thừa ra đoạn ngòi. Sau khi sản xuất được các quả pháo, T lấy dây cháy chậm kết các quả pháo với nhau thành dây pháo, T đã làm được 05 dây pháo, trong đó có 03 dây pháo dài hơn 01 mét/1dây, 02 dây pháo dài gần 01 mét/1dây. Sau khi làm được 05 dây pháo, T cho 05 dây pháo vào 01 thùng bìa các tông bên ngoài có chữ “CHIN-SU” rồi đi ngủ. Đến sáng ngày 03/01/2024, H có nhắn tin hỏi “làm xong chưa” T trả lời “làm xong rồi” T và H hẹn tối giao pháo tại Nhà Văn hóa thôn D1, xã L. Khoảng 18 giờ ngày 03/01/2024, H nhắn tin cho T bảo Trọng mang pháo ra Nhà Văn hóa thôn C, xã L để H đến lấy, T đồng ý. Khoảng 18 giờ 45 phút T bê thùng cát tông bên ngoài có chữ “CHIN SU" đựng 05 dây pháo đi bộ ra Nhà Văn hóa giao cho H, khi vừa ra đến cổng nhà thì gặp anh Trương Văn Q ở cùng thôn đi xe mô tô, thấy vậy T nói với anh Q “Anh cho em đi nhờ mang ít đồ ra Nhà Văn hóa”, anh Q đồng ý, khi đến Nhà Văn h không thấy H nên T bảo anh K chở quay lại chân dốc đoạn cánh đồng Bờ Trục thôn D, đến đó T bảo anh Q dừng lại cho T xuống xe, còn anh Q đi về. Khoảng 18 giờ 50 phút thì T bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra bắt quả tang và thu giữ các vật chứng như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Vũ Văn T thực nghiệm điều tra diễn lại hành vi sản xuất pháo, kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của Vũ Văn T.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định các vật nghi là pháo nổ thu giữ khi bắt quả tang và vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn T có phải là pháo nổ và thành phần chế tạo thuốc pháo không, khối lượng bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số: 76/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông ký hiệu "QT" đã được niêm phong gửi giám định: Các vật hình trụ, có kích thước (05 x 02)cm, quấn bằng giấy màu đỏ bên ngoài có in chữ "Vạn sự như ý" màu vàng, hai đầu được bịt kín, trong đó một đầu gắn dây ngòi, các vật hình trụ được liên kết với nhau thành dây, được đựng trong một thùng bìa cát tông, bên ngoài có chữ “CHIN-SU” đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng là 6,6 kg (sáu phẩy sáu ki lô gam).

- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông, bên ngoài có chữ "TAKO", "W-666" màu đỏ đã được niêm phong gửi giám định:

  • Trong mẫu chất bột màu xám có khối lượng 0,4 kg (không phẩy bốn ki lô gam), được đựng trong 01 (một) túi ni lon có tìm thấy thành phần Kali clorat (KClO3), Lưu huỳnh (S) và bột nhôm (Al).
  • Trong mẫu chất bột màu xám có khối lượng 0,5 kg (không phẩy năm ki lô gam), được đựng trong 01 (một) túi ni lon có tìm thấy thành phần bột nhôm (Al).
  • Trong mẫu chất bột màu vàng có khối lượng 0,3 kg (không phẩy ba ki lô gam), được đựng trong 01 (một) túi ni lon (được đựng trong 01 (một) bọc ni lon màu đen, bên ngoài dán băng dính màu vàng) có tìm thấy thành phần lưu huỳnh (S).

(Các chất Kali clorat (KClO3), lưu huỳnh (S) và bột nhôm (Al) thường được dùng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo)

+ 02 (hai) dây màu hồng và 01 (một) dây màu xanh là dây ngòi pháo, có tổng khối lượng 0,2kg (không phẩy hai ki lô gam).

Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 4 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 12 (mười hai) tháng đến 14 (mười bốn) tháng tù về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai tư) tháng đến 28 (hai tám) tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo T cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, số imei 356543100554574.

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “QT” bên trong gồm: 01 thùng cát tông có chữ “CHIN SU” chứa nhiều quả pháo hình trụ tròn chiều dài 5cm, đường kính 2cm được quấn bằng giấy màu đỏ phía ngoài in chữ “Vạn sự như ý” màu vàng một đầu được bịt kín bằng giấy màu trắng, đầu còn lại được gắn dây dẫn màu trắng bạc được liên kết với nhau thành các dây pháo có tổng khối lượng 5,6kg còn lại sau giám định; một thùng bìa cát tông có chữ “HEO CAO BỒI”, “BIN&BON” bên trong gồm: 412 (Bốn trăm mười hai) khối hình trụ tròn màu đỏ được kết nối với nhau bằng nhiều lớp bên ngoài có hình cây tre và có chữ “Vạn sự như ý” màu vàng; 01 hộp cát tông màu vàng, một góc có chữ “SAMSUNG” và nhiều chữ nước ngoài bên trong có: 01 cuộn giấy bóng (màng bọc thực phẩm); 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi bọc nhựa màu xanh, 01 chiếc tô vít bốn cạnh, cán màu vàng, cam và đen; 04 lọ keo 502 cũ đã qua sử dụng; 01 cuộn giấy vệ sinh màu trắng; 01 (một) thùng bìa cát tông màu đỏ, trắng bên ngoài có chữ "TAKO-W-666" được niêm phong bên trong có: Mẫu chất bột màu xám có tìm thấy thành phần Kali clorat (KClO3), Lưu huỳnh (S) và bột nhôm (Al) được đựng trong một túi nilon khối lượng còn lại sau giám định là 0,3kg, mẫu chất bột màu xám chứa thành phần bột nhôm (Al) được đựng trong một túi nilon khối lượng còn lại sau giám định là 0,4kg, mẫu chất bột màu vàng chứa thành phần Lưu huỳnh (S) được đựng trong một túi nilon màu đen dán băng dính màu vàng khối lượng còn lại sau giám định là

0,2kg, 01 đoạn dây màu hồng, 01 đoạn dây màu xanh (dây ngòi pháo có tổng khối lượng 0,1kg); sim số 0963.204.010 và sim số 0965.586.101.

Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” là đúng người, đúng tội, bị cáo xin hưởng án treo và hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng gồm: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị D, nhân chứng anh Trương Văn Q, người chứng kiến ông Ngô Thế T2. Xét thấy những người trên đã được triệu tập hợp lệ và trong hồ sơ vụ án có đầy đủ lời khai của những người này, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử và không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 3/2023 bị cáo Vũ Văn T và đối tượng H gặp nhau tại một quán trà đá ở thị trấn C, bị cáo thống nhất với H là sẽ pháo nổ bán cho H nhưng bị cáo không có tiền mua nguyên vật liệu. H đưa trước cho bị cáo 2.500.000 đồng và thoả thuận khi nào nhận pháo sẽ trả cho bị cáo 4.400.000 đồng, nếu làm đẹp sẽ cho thêm 100.000 đồng. Sau đó bị cáo và đối tượng H kết bạn Zalo với nhau. Về nhà bị cáo lên mạng Facebook tìm đặt mua vỏ pháo đã quấn sẵn màu đỏ, ruột rỗng, in chữ

“Vạn sự như ý” màu vàng, hình cây tre và dây cháy chậm loại màu xanh và màu hồng với tổng số tiền là 2.400.000 đồng và lên Shoppe tìm mua 0,5kg bột Lưu huỳnh (S) 0,7kg Kali clorat (KclO3) với số tiền là 120.000 đồng. Vài hôm sau bị cáo nhận được hàng, tuy nhiên H không liên lạc lại nên bị cáo cất dấu nguyên vật liệu đã mua tại tầng 2 của gia đình. Tối ngày 02/01/2024 đối tượng H nhắn tin Zalo tài khoản “Hưng Nguyễn” cho bị cáo hẹn ngày hôm sau lấy pháo, bị cáo đã lấy các nguyên vật liệu mua trước đó trộn bột lưu huỳnh, bột nhôm, bột kali colorat và một lượng nhỏ than củi tạo thành thuốc pháo. Bị cáo làm được 05 dây pháo trong đó có 02 dây dài gần 1m và 03 dây dài hơn 1m cho vào thùng bìa cát tông bên ngoài có chữ “CHIN SU”, bị cáo và đối tượng H hẹn nhau khoảng 18 giờ ngày 3/01/2024 tại nhà văn hoá thôn C, xã L bị cáo sẽ giao pháo cho H. Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 3/01/2024, bị cáo mang pháo đến bãi cỏ đầu cánh đồng Bờ Trục để giao pháo thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo làm ra quả pháo, bện các quả pháo thành dây rồi mang đi bán kiếm lời, đã xâm phạm đến quy định hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”. Căn cứ vào khối lượng pháo nổ là 6,6kg (sáu phẩy sáu kilogam), Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Vũ Văn T khai báo thẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo được tặng thưởng giấy khen giải nhất môn đẩy gậy cấp huyện, có ông ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, được Công an xã L đề nghị biểu dương nhặt được số tiền 20.000.000 đồng và các giấy tờ cá nhân kèm theo trả cho người bị mất. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu một cách bột phát, thời điểm phạm tội bị cáo vừa bước qua tuổi 18 nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, răn đe, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của

pháp luật Nhà nước. Mức hình phạt áp dụng cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản có giá trị. Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối những người bán vỏ pháo, dây dẫn và hóa chất cho bị cáo thông qua mạng xã hội, do thời điểm đó bị cáo sử dụng số điện thoại không đăng ký chính chủ đăng ký tài khoản Facebook, tài khoản trên shoppe để liên hệ mua nguyên liệu sản xuất pháo. Do chương trình chuẩn hóa sim thuê bao chính chủ nên đã bị nhà mạng cắt dừng hoạt động, bị cáo không nhớ số sim điện thoại, không nhớ tài khoản shope, không nhớ tên gian hàng trên shoppe cũng như trang fanpage, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định người bán các vật liệu để sản xuất pháo cho bị cáo. Đối với người giao nguyên liệu sản xuất pháo cho bị cáo không biết người đó là nhân viên của hãng giao hàng nào nên Cơ quan điều tra không xác định được những người đó là ai, ở đâu để xử lý.

Đối với người tên H là người đặt mua pháo của bị cáo sử dụng tài khoản Z có tên “Hưng N”, bị cáo không biết năm sinh, họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của bị cáo, tại ứng dụng Zalo có nội dung cuộc trò chuyện về việc sản xuất buôn bán pháo nổ với tài khoản “Hưng N”. Tuy nhiên phần thông tin cá nhân, số điện thoại của tài khoản “Hưng N” không hiển thị. Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Công ty cổ phần V đề nghị cung cấp thông tin chủ tài khoản Zalo “Hưng Nguyễn”, Cơ quan điều tra đã nhiều lần có văn bản đôn đốc nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời của công ty V. Do vậy Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến người mua pháo để tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ xem xét xử lý sau.

Đối với người tên là T4, bị cáo chỉ nghe giới thiệu là quê ở Lào Cai, không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Đối với anh Nguyễn Văn Q1 là người chở bị cáo bê thùng pháo đi bán, tuy nhiên, anh Q1 không biết và cũng không được nói cho biết là bị cáo bê thùng cát tông đựng pháo đi bán nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Q1 là đúng quy định.

Đối với bà Trần Thị D là mẹ đẻ và chị Vũ Thị T5 chị gái sinh sống cùng bị cáo nhưng đều không biết và cũng không được bị cáo nói cho biết sản xuất pháo tại

nhà nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với bà D và chị T5 là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, số imei 356543100554574 là điện thoại của bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi việc sản xuất, mua bán pháo cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “QT” bên trong gồm: 01 thùng cát tông có chữ “CHIN SU” chứa nhiều quả pháo hình trụ tròn chiều dài 5cm, đường kính 2cm được quấn bằng giấy màu đỏ phía ngoài in chữ “Vạn sự như ý” màu vàng một đầu được bịt kín bằng giấy màu trắng, đầu còn lại được gắn dây dẫn màu trắng bạc được liên kết với nhau thành các dây pháo có tổng khối lượng 5,6kg còn lại sau giám định; một thùng bìa cát tông có chữ “HEO CAO BỒI”, “BIN&BON” bên trong gồm: 412 (Bốn trăm mười hai) khối hình trụ tròn màu đỏ được kết nối với nhau bằng nhiều lớp bên ngoài có hình cây tre có chữ “Vạn sự như ý” màu vàng; 01 hộp cát tông màu vàng, một góc có chữ “SAMSUNG” và nhiều chữ nước ngoài bên trong có: 01 cuộn giấy bóng (màng bọc thực phẩm); 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi bọc nhựa màu xanh, 01 chiếc tô vít bốn cạnh, cán màu vàng, cam và đen; 04 lọ keo 502 cũ đã qua sử dụng; 01 cuộn giấy vệ sinh màu trắng; 01 (một) thùng bìa cát tông màu đỏ, trắng bên ngoài có chữ "TAKO-W-666" được niêm phong bên trong có: Mẫu chất bột màu xám có tìm thấy thành phần Kali clorat (KClO3), Lưu huỳnh (S) và bột nhôm (Al) được đựng trong một túi nilon khối lượng còn lại sau giám định là 0,3kg, mẫu chất bột màu xám chứa thành phần bột nhôm (Al) được đựng trong một túi nilon khối lượng còn lại sau giám định là 0,4kg, mẫu chất bột màu vàng chứa thành phần Lưu huỳnh (S) được đựng trong một túi nilon màu đen dán băng dính màu vàng khối lượng còn lại sau giám định là 0,2kg, 01 đoạn dây màu hồng, 01 đoạn dây màu xanh (dây ngòi pháo có tổng khối lượng 0,1kg) và sim số 0963.204.010 và sim số 0965.586.101 là các vật dụng, nguyên vật liệu và số sim bị cáo liên lạc trong việc mua bán sản xuất pháo cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về điều luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    - Giao bị cáo Vũ Văn T cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    * Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    * Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

  3. Về vật chứng vụ án:

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, số imei 356543100554574 của bị cáo T.

    Tịch thu 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “QT” bên trong gồm: 01 thùng cát tông có chữ “CHIN SU” chứa nhiều quả pháo hình trụ tròn chiều dài 5cm, đường kính 2cm được quấn bằng giấy màu đỏ phía ngoài in chữ “Vạn sự như ý” màu vàng một đầu được bịt kín bằng giấy màu trắng, đầu còn lại được gắn dây dẫn màu trắng bạc được liên kết với nhau thành các dây pháo có tổng khối lượng 5,6kg; một thùng bìa cát tông có chữ “HEO CAO BỒI”, “BIN&BON” bên trong gồm: 412 (Bốn trăm mười hai) khối hình trụ tròn màu đỏ được kết nối với nhau bằng nhiều lớp bên ngoài có hình cây tre có chữ “Vạn sự như ý” màu vàng; 01 hộp cát tông màu vàng, một góc có chữ “SAMSUNG” và nhiều chữ nước ngoài bên trong có: 01 cuộn giấy bóng (màng bọc thực phẩm); 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi bọc nhựa màu xanh, 01 chiếc tô vít bốn cạnh, cán màu vàng, cam và đen; 04 lọ keo 502 cũ đã qua sử dụng; 01 cuộn giấy vệ sinh màu trắng; 01 (một) thùng bìa cát tông màu đỏ, trắng bên ngoài có chữ "TAKO-W-666" được niêm phong bên trong có: Mẫu chất bột màu xám có tìm thấy thành phần Kali clorat (KClO3), Lưu huỳnh (S) và bột nhôm (Al) được đựng trong một túi nilon khối lượng là 0,3kg, mẫu chất bột màu xám chứa thành phần bột nhôm (Al) được đựng trong một túi nilon khối lượng là 0,4kg, mẫu chất bột màu vàng chứa thành phần Lưu huỳnh (S) được đựng trong một túi nilon màu đen dán băng dính màu vàng khối lượng là 0,2kg, 01 đoạn dây màu hồng, 01 đoạn dây màu xanh (dây ngòi pháo có tổng khối lượng 0,1kg) và sim số 0963.204.010 và sim số 0965.586.101 để tiêu huỷ.

    (Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)

  4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - VKSND tỉnh BG;
  • - TAND tỉnh BG;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Sở Tư pháp BG;
  • - UBND xã Liên Sơn;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về sản xuất, buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/01/2024 Vũ Văn T thực hiện sản xuất pháo nổ để bán. Sau khi thực hiện xong trong quá trình mang đi bán T đã bị công an huyện Tân Yên bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger