TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày 23-8-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Lê Đức Hỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà H' Ra Chen – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Ứng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 30/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2023/QĐST-HS ngày 15/8/2023 đối với các bị cáo:
1. Đặng Công N, sinh năm 2000 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Đặng Công S (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1972; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 2003 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. (Nhân thân: Ngày 03/02/2018 bị Công an huyện Đắk Song xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 18/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích tại bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2019/HS-ST, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật Hình sự, được coi như không có án tích). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2022 – Có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Hữu T, sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Hậu Q, sinh năm 1966 và con bà Phạm Thi X, sinh năm 1967; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1999 và có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. (Nhân thân: Ngày 03/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội Cướp giật tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/HSST, đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2022 – Có mặt tại phiên tòa.
3. Từ Quốc H, sinh năm 2000 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Từ Văn H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1973; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2022 – Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đặng Thị Ph, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Từ Quốc D, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Bo B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Trần Đức K, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn 03, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 17/11/2022, Trần Hữu T rủ Từ Quốc H đi vào xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức để mua ma túy về để sử dụng và bán lại kiếm lời. H đồng ý và sử dụng xe máy mang biển kiểm soát 48K1-075.32 chở T xuống vườn cao su gần bản Ninh Hòa, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức thì T đưa cho H 300.000 đồng và H góp thêm 150.000 đồng, tổng là 450.000 đồng, H một mình đi đến bờ đập bản Ninh Hòa, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền là 450.000đ, khoảng 20 phút sau người đàn ông quay lại và đưa cho H 01 gói bên trong chứa ma túy. H mang ma túy đến chỗ T đang đợi, cả hai lấy 01 phần ma túy ra sử dụng. Sau khi sử dụng xong T điều khiển xe chở H về đến nghĩa trang bon Bu Dơng, xã Đắk R'Tíh, huyện Tuy Đức thì T nói với H gọi cho N đến lấy ma túy về bán lại. Sau đó, T và H tiếp tục lấy 01 phần ma túy ra để sử dụng, T sử dụng dao lam chia nhỏ số ma túy còn lại thành 08 gói (tép) nhỏ để bán lẻ, H gấp gói giấy bạc đựng ma túy. Chia đến gói thứ ba thì N đến, sau đó cả ba cùng thực hiện việc đóng gói ma túy vào túi zip. Đóng gói xong T đưa 08 gói ma túy cho N, cả ba thống nhất 04 gói cho N sử dụng và 04 gói để bán mỗi gói là 500.000 đồng để lấy tiền tiếp tục mua ma sử dụng tiếp lần sau. Lúc này, Trần Đức K gọi điện thoại cho N hỏi mua 01 gói ma túy thì được N đồng ý bán. N lấy 08 gói ma túy đi về bán cho K, còn T và H ở lại tiếp tục sử dụng ma túy. Khi về đến ngã ba thác Đắk G'Lung thuộc thôn 05, xã Quảng Tâm, huyện Tuy Đức, N dừng xe lấy 01 gói ma túy ra sử dụng thì nhận được điện thoại của vợ nên về thẳng nhà mà không bán ma túy cho K. Tối ngày 17/11/2022, N tiếp tục lấy 03 gói ma túy ra sử dụng hết.
Khoảng 08 giờ ngày 18/11/2022, K nhắn tin cho N qua ứng dụng Zalo hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng và cho Nguyễn Thanh C mua ma túy với số tiền 500.000 đồng thì được N đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 48H1-241.53 của chị Đặng Thị P đến của hàng Minh Quốc thuộc thôn 03, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông mang theo 01 túi Zip bên trong chứa 04 gói ma túy để bán cho K và C. Khi đến nơi N thấy C và K đang ngồi trước ghế đá, K lấy ra 1.000.000 đồng và C lấy ra 500.000 đồng bỏ trên bàn, N cầm gói ma túy trên tay trái tiến đến chuẩn bị lấy tiền và giao ma túy thì bị Công an xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức bắt quả tang. Tại thời điểm bắt quả tang, N vứt gói zip bên trong chứa 04 gói ma túy vào cửa hàng Minh Quốc rồi bỏ chạy thì bị bắt giữ. Quá trình điều tra Đặng Công N, Trần Hữu T, Từ Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng đã thu giữ: 01 gói zip màu trắng, bên trong chứa 04 gói nilon màu trắng, trong mỗi gói nilon có lớp giấy bạc, trong giấy bạc chứa chất rắn màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX Max; 01 xe mô tô biển số 48H1-241.53; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và số tiền 1.500.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 325/KL-KTHS ngày 24/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 04 gói giấy bạc được niêm phong trong bì thư gửi giám định đều là chất ma túy, có khối lượng mẫu lần lượt là 0,1082 gam; 0,1182 gam; 0,0867 gam; 0,1027 gam; là Heroine. Tổng khối lượng là 0,4158 gam (Hoàn lại sau giám định 0,3534 gam).
Cáo trạng số: 33/CT-VKS –TĐ ngày 13/7/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố các bị cáo Đặng Công N, Trần Hữu T và Từ Quốc H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố các bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Công N, Trần Hữu T và Từ Quốc H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 (bị cáo Hiếu được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Đặng Công N, Trần Hữu T, Từ Quốc H mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm b, c khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Đề nghị:
Tịch thu, tiêu hủy 0,3534 gam Heroine (hoàn lại sau giám định).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX Max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và số tiền 1.500.000 đồng đang nộp tại tài khoản của Chi cục THADS huyện Tuy Đức, do sử dụng vào việc phạm tội.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 48H1-241.53 cho chị Đặng Thị Phương là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Từ Quốc Hiếu do không xác nhận được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 48H1-241.53 của chị Đặng Thị P và xe mô tô biển số 48K1-075.32 của Từ Quốc D do Đặng Công N, Từ Quốc H sử dụng để làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, chị P và anh D không biết N, H dùng xe để đi mua bán ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trần Đức Kh và Nguyễn Thanh C là người mua ma túy của Đặng Công N nhưng chưa nhận được ma túy thì bị bắt quả tang nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 con dao lam mà T sử dụng để chia nhỏ ma túy, sau khi sử dụng xong T đã vứt bỏ, không xác định được địa điểm, không thu giữ được nên không đề cập để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Công N, Từ Quốc H, Trần Hữu T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã chuyển xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo rất hối hận và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Khoảng 13 giờ ngày 17/11/2022, T rủ H đến xã Đắk Ngo mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền 450.000 đồng. Sau đó về nghĩa trang bon Bu Dơng, xã Đắk R'Tíh, huyện Tuy Đức sử dụng một phần, còn lại chia số ma túy thành 08 gói nhỏ và gọi Đặng Công N đến thỏa thuận chia cho Nam 04 gói về sử dụng, còn 04 gói cho N bán mỗi gói với giá là 500.000 đồng để lấy tiền tiếp tục mua ma túy về sử dụng chung. Đến khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 18/11/2022, N đến cửa hàng Minh Quốc thuộc thôn 03, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông để bán ma túy cho Trần Đức K với số tiền 1.000.000 đồng và Nguyễn Thanh C với số tiền 500.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang. Theo kết luận giám định thì 04 gói ma túy có khối lượng 0,4158 gam là loại Heroine. Trần Hữu T, Từ Quốc H đã thống nhất giao ma túy cho Đặng Công N bán lấy tiền để cùng nhau tiếp tục mua ma túy về sử dụng chung và N đã có hành vi bán ma túy cho hai người là K, C. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Đặng Công N, Trần Hữu T và Từ Quốc H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố các bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại điểm c khoảng 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
c. Đối với 02 người trở lên;
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội do các bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích vụ lợi cá nhân nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về trao đổi các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Các bị cáo đều là người nghiện ma túy, khi rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời không có sự bàn bạc, phân công vai trò rõ ràng chỉ ngầm hiểu với nhau nên không có tính tổ chức chặt chẽ, chỉ là đồng phạm đơn giản.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Từ Quốc H có bà ngoại là bà Đỗ Thị T được Thủ tướng chính phủ tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị bắt tù, đầy nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét, áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
[6] Về hình phạt: Bị cáo Đặng Công N đã bị xử phạt tù về tội Cố ý gây thương tích, khi phạm tội chưa thành niên nên không được coi là án tích, bị cáo Trần Hữu T đã bị xử phạt tù về tội Cướp giật tài sản, đã được xóa án tích nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức hình phạt như nhau và cao hơn bị cáo H là người có nhân thân tốt là phù hợp. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tôt, có ích cho xã hội.
[7] Về vật chứng vụ án: Xét 0,3534 gam Heroine (hoàn lại sau giám định) không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX Max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và số tiền 1.500.000 đồng, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 48H1-241.53 cho chị Đặng Thị P là chủ sở hữu hợp pháp.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Từ Quốc H do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 48H1-241.53 của chị Đặng Thị P và xe mô tô biển số 48K1-075.32 của Từ Quốc D do Đặng Công N, Từ Quốc H sử dụng để làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, chị P và anh D không biết N, H dùng xe để đi mua bán ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trần Đức K và Nguyễn Thanh C là người mua ma túy của Đặng Công N nhưng chưa nhận được ma túy thì bị bắt quả tang nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 con dao lam mà T sử dụng để chia nhỏ ma túy, sau khi sử dụng xong T đã vứt bỏ, không xác định được địa điểm, không thu giữ được nên không đề cập để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Công N, Từ Quốc H, Trần Hữu T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã chuyển xử lý theo quy định của pháp luật.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Công N, Trần Hữu T và Từ Quốc H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
Bị cáo Đặng Công N 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/11/2022.
Bị cáo Trần Hữu T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/11/2022.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Từ Quốc H 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/11/2022.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy 0,3534 gam Heroine (hoàn lại sau giám định).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX Max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và số tiền 1.500.000 đồng đang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
(Vật chứng có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức ngày 13 tháng 7 năm 2023).
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 48H1-241.53 cho chị Đặng Thị P là chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Đặng Công N, Trần Hữu T và Từ Quốc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (đã ký và đóng dấu) Nông Văn Nhu |
Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 23/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 28/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
