TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/DS - ST
Ngày 09-8-2024
V/v: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thảo Yến
2. Ông Đào Đức Phú
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thanh Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 02/2023/TLST - DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST- DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Tổng công ty Bảo hiểm
Địa chỉ trụ sở: Tầng 24, tòa nhà PVI Tower, Lô VP2 Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Đức, chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: 1. Bà Đỗ Minh Hương, chức vụ: Trưởng phòng pháp chế; 2. Ông Nguyễn Đức Anh, chức vụ: Chuyên viên phòng pháp chế; 3. Ông Đào Hữu Hoan, chức vụ: Trưởng phòng – Phòng quản lý nghiệp vụ và bồi thường – Công ty Bảo hiểm Kinh Bắc; 4. Ông Ngô Xuân Thành, chức vụ: Chuyên viên phòng pháp chế thuộc Tổng công ty Bảo hiểm; 5. Ông Nguyễn Mạnh Cường, chức vụ: Chuyên viên P.GQKN BH PHH, VPĐD CSKH Bảo hiểm Phía Bắc; 6. Ông Phạm Trọng Thịnh, chức vụ: Chuyên viên P.GQKN BH PHH, VPĐD CSKH Bảo hiểm Phía Bắc là người đại diện theo ủy quyền của Tổng giám đốc – Tổng công ty Bảo hiểm (Văn bản ủy quyền lập ngày 27/12/2022, ngày 04/7/2023 và ngày 08/5/2024).
Ông Thành, ông Hoan, ông Cường có mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H
Địa chỉ trụ sở: TĐ 512, cụm công nghiệp Hạp Lĩnh (thuê NX Công ty CP tư vấn xây dựng công trình điện Hà Nội), phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông LI, CHANGJIANG, chức vụ: Giám đốc
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Công ty Luật TNHH BETTER. Địa chỉ trụ sở: Thửa đất U05-67, khu D – Đô thị mới Dương Nội, phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Người diện theo pháp luật: Bà Lại Thị Trang, chức vụ: Giám đốc là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H (Văn bản ủy quyền lập ngày 14/11/2023)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP Tập đoàn L P
Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Kim Chung, chức vụ: Tổng Giám đốc
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2022, nguyên đơn là Tổng công ty Bảo hiểm trình bày:
Ngày 25/12/2019, Tổng công ty Bảo hiểm (sau đây gọi tắt là Bảo hiểm) đã ký hợp đồng bảo hiểm và cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cháy nổ bắt buộc cho Công ty L P (TNHH) nay là Công ty CP Tập Đoàn L P (sau đây gọi tắt là Công ty L P) về việc bảo hiểm cho tài sản bao gồm nhà xưởng, máy móc thiết bị của Công ty L P, có địa chỉ tại Khu công nghiệp Hạp Lĩnh, phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Các thông tin được bảo hiểm như sau:
- Người được bảo hiểm: Công ty L P (TNHH)
- Đối tượng được bảo hiểm: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị
- Điều kiện/điều khoản bảo hiểm: Quy tắc bảo hiểm cháy nổ bắt buộc ban hành kèm theo nghị định số: 23/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính Phủ.
- Thời hạn bảo hiểm: Từ 14 giờ 00 phút, ngày 25/12/2019 đến 14 giờ 00 phút ngày 25/12/2020.
Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 09 tháng 11 năm 2020, đã xảy ra sự cố cháy nhà xưởng số 5 tại KCN Hạp Lĩnh của Công ty L P gây thiệt hại cho nhà xưởng số 5 và các vật tư, thiết bị chữa cháy.
Ngày 10 tháng 11 năm 2020, Bảo hiểm đã chỉ định Công ty TNHH giám định và tư vấn kỹ thuật (Côn ty RACO) tiến hành giám định thiệt hại. Sau khi giám định hiện trường và thu thập các hồ sơ liên quan. Ngày 10 tháng 5 năm 2022 Công ty RACO đã phát hành báo cáo cuối cùng, đề xuất số tiền bồi thường cho vụ tổn thất nêu trên là 1.440.989.932 đồng.
Trên cơ sở điều kiện/điều khoản của Hợp đồng bảo hiểm/GCNBH, Bảo hiểm đã bồi thường cho Công ty L P số tiền là 1.440.989.932 đồng.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022, sau khi nhận tiền bồi thường, Công ty LP đã có “Thư chấp nhận bồi thường và chuyển quyền khiếu nại”, theo đó Công ty L P “chuyển giao không hủy ngang cho Bảo hiểm bao gồm mà không giới hạn: Toàn bộ quyền khiếu nại và/hoặc quyền khởi kiện, quyền nhận bồi thường... bất kỳ khoản tiền nào từ bên thứ ba gây ra tổn thất nêu trên (nếu có) theo bất kỳ thỏa thuận hoặc bản án và quyết định nào tương ứng với số tiền Bảo hiểm đã bồi thường khiếu nại nói trên.
Cung cấp toàn bộ tài liệu pháp lý liên quan đến đối tượng được bảo hiểm và cho phép Bảo hiểm sử dụng toàn bộ quyền hạn và hỗ trợ Bảo hiểm bất kỳ công việc, biện pháp mà Bảo hiểm yêu cầu một cách hợp lý trong việc thực thi quyền thu hồi tài sản sau buồi thường từ chúng tôi và/hoặc các bên có liên quan (nếu có)”
Căn cứ Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm, Bảo hiểm đã nhận thế quyền từ Công ty L P yêu cầu bên thứ ba bồi thường thiệt hại do tài sản của Công ty L P bị thiệt hại do sự cố cháy nhà xưởng số 5 tại KCN Hạp Lĩnh ngày 09/11/2020.
Căn cứ “Thông báo kết luận giám định” số: 242/PC01 ngày 07/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận nguyên nhân cháy:
- “- Điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực giáp tường phía Nam, cách tường phía Tây 44m, bên trong Công ty TNHH Bao bì và In ấn T V H H thuộc Cụm công nghiệp Hạp Lĩnh, phường Hạp Lĩnh, Bắc Ninh.
- - Nguyên nhân cháy: Do chập mạch điện trên đường dây dẫn điện làm cháy lớp vỏ cách điện sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên...”
Căn cứ Hợp đồng thuê nhà xưởng số: 2312/HĐTX-2019 ngày 23/12/2019 giữa Công ty L P (TNHH) và Công ty TNHH Bao bì và In ấn T V H H (sau đây gọi tắt là Công ty T V H H) thì tại thời điểm xảy ra cháy Công ty T V H H là chủ sở hữu/người chiếm hữu hệ thống đường dây dẫn điện nhà xưởng bên trong Công ty T V H H.
Vì vậy, Bảo hiểm khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty T V H H phải bồi hoàn cho Bảo hiểm số tiền 1.440.989.932 đồng là toàn bộ số tiền mà Bảo hiểm đã bồi thường cho Công ty L P.
- Về lãi: Buộc Công ty T V H H có nghĩa vụ chịu lãi chậm trả đối với khoản tiền bồi thường nêu trên với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 19/05/2022 đến ngày theo đơn khởi kiện.
Theo “Bản ý kiến bị đơn” đề ngày 01/11/2023, người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty T V H H là ông HUANG HUI TAO trình bày:
Vào đêm ngày 09, rạng sáng ngày 10/11/2020, hỏa hoạn xảy ra tại Cụm công nghiệp Hạp Lĩnh, điểm xuất phát cháy bắt đầu từ nhà xưởng của Công ty T V H H. Sau đó, đám cháy lan sang nhà xưởng của các công ty: Công ty TNHH Woori Tech Win, Công ty TNHH BQ Tech Vina, Công ty Far East Tech, Công ty Cổ phần tập đoàn L P. Căn cứ vào Biên bản giám định của Viện khoa học hình sự Bộ công an ngày 24/11/2020, Công an tỉnh Bắc Ninh có thông báo kết luận giám định số 242/PC01 ngày 07/12/2020 trong đó nguyên nhân cháy được xác định do “chập mạch điện trên đường dây dẫn điện làm cháy lợp vỏ cách điện sau đó cháy lan ra xung quanh”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh chưa có kết luận cuối cùng về nguyên nhân gây ra vụ cháy. Do đó chưa có cơ sở để xác định nguyên nhân cháy là do lỗi của Công ty T V H H, việc này dẫn đến bị đơn chưa có căn cứ để xác định tổn thất từ vụ cháy của Công ty L P là do lỗi của bị đơn, vì vậy PVI chưa có đủ căn cứ để thực hiện việc truy đòi số tiền PVI đã bồi thường cho Công ty L P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty CP Tập đoàn L P trình bày:
Ngày 19/5/2022, Công ty L P đã có thư chấp nhận bồi thường của Bảo hiểm, đồng thời chuyển quyền khiếu nại cho Bảo hiểm. Do vậy, việc Bảo hiểm khởi kiện Công ty T V H H, Công ty L P không có ý kiến gì. Công ty L P không còn quyền và nghĩa vụ trong vụ án dân sự này. Công ty L P đề nghị không tham gia phiên tòa xét xử trong vụ kiện này.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án buộc bị đơn có trách nhiệm bồi hoàn số tiền bảo hiểm đã trả cho Công ty L P là 1.440.989.932 đồng.
- Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu Tòa án buộc Công ty T V H H có nghĩa vụ chịu lãi chậm trả đối với khoản tiền bồi thường nêu trên với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 19/05/2022 đến ngày theo đơn khởi kiện.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm xác định: Do nguyên nhân vụ cháy cho đến nay vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng về nguyên nhân vụ cháy là do lỗi khách quan hay chủ quan và lỗi thuộc về cá nhân, tổ chức nào. Bị đơn cũng chưa từng nhận thông báo hay tài liệu nào về vụ cháy từ cơ quan điều tra kết luận rằng nguyên nhân cháy là do lỗi của bị đơn.
Theo quy định tại Điều 49 của Luật kinh doanh bảo hiểm quy định về trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn thì bị đơn chỉ có trách nhiệm bồi hoàn cho bên nguyên đơn khi và chỉ khi thuộc trường hợp là người thứ ba có lỗi. Do chưa có đủ căn cứ pháp lý để khẳng định nguyên nhân cuối cùng của vụ cháy là do lỗi của bị đơn, chưa có căn cứ để xác định tổn thất từ vụ cháy của Công ty L P là do lỗi của bị đơn nên Bảo hiểm chưa có đủ căn cứ để thực hiện việc truy đòi Công ty T V H H số tiền Bảo hiểm đã bồi thường cho Công ty L P là 1.440.989.923 đồng. Bị đơn đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Tổng công ty Bảo hiểm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng, đủ theo quy định của pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án là đầy đủ, đúng pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 49 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000; các Điều 365, 584, 589, 601, 357, 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xử:
Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Tổng công ty Bảo hiểm.
Buộc Công ty TNHH Bao bì và in ấn Trng Việt Huy Hoàng bồi hoàn cho Tổng công ty Bảo hiểm số tiền: 1.440.989.932 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu: Đề nghị áp dụng lãi suất chậm trả là 10%/năm kể từ ngày 19/5/2022 cho đến ngày theo đơn khởi kiện.
Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty CP Tập đoàn L P vắng mặt nhưng đã có lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Công ty CP Tập đoàn L P là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng: Giữa Công ty L P và Công ty T V H H ký kết hợp đồng cho thuê nhà xưởng. Ngày 09/11/2020, dã xảy ra cháy, điểm xuất phát cháy bắt đầu từ nhà xưởng của Công ty T V H H, ảnh hưởng đến các khu vực xung quanh trong đó có nhà xưởng số 5 của Công ty L P. Giữa Bảo hiểm và Công ty L P đã ký kết hợp đồng bảo hiểm cháy nổ. Sau khi giám định, Bảo hiểm đã chi trả bảo hiểm cho Công ty L P. Sau khi nhận tiền bồi thường, Công ty L P chuyển quyền yêu cầu Công ty T V H H bồi thường cho Bảo hiểm nên đây là tranh chấp liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thời điểm Công ty L P và Bảo hiểm ký kết hợp đồng bảo hiểm là ngày 25/12/2019; thời điểm xảy ra sự cố cháy tại nhà xưởng số 5 là năm 2020 nên pháp luật áp dụng là Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Ngày 19/5/2022, sau khi nhận tiền bồi thường, Công ty L P đã có “Thư chấp nhận bồi thường và chuyển quyền khiếu nại”, theo đó Công ty L P “chuyển giao không hủy ngang cho Bảo hiểm bao gồm mà không giới hạn: Toàn bộ quyền khiếu nại và/hoặc quyền khởi kiện, quyền bồi thường.... bất kỳ khoản tiền nào từ Bên thứ ba gây ra tổn thất....”. Căn cứ quy định tại Điều 365 của Bộ luật Dân sự thì kể từ ngày 19/5/2022 Bảo hiểm trở thành bên có quyền yêu cầu. Đến ngày 27/12/2022, Bảo hiểm làm đơn khởi kiện Công ty T V H H tại Tòa án. Như vậy, Bảo hiểm là bên thế quyền có quyền khởi kiện. Do Công ty T V H H có trụ sở tại thành phố Bắc Ninh nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết vụ án này.
Ngày 10/5/2022, công ty L P nhận được báo cáo giám định cuối cùng của Công ty RACO. Ngày 19/5/2022, Công ty L P có văn bản chuyển giao quyền yêu cầu cho Bảo hiểm. Ngày 02/10/2023, Bảo hiểm nộp đơn khởi kiện tại Tòa án.
Trường hợp này, thời điểm Công ty L P biết quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm là ngày 10/5/2022. Như vậy theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật dân sự: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Đối với yêu cầu của Bảo hiểm, đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải bồi thường số tiền mà Bảo hiểm đã chi trả bảo hiểm cho Công ty L P là: 1.440.989.932 đồng.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Phía bị đơn cho rằng nguyên nhân vụ cháy cho đến nay vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng về nguyên nhân vụ cháy là do lỗi khách quan hay lỗi chủ quan và lỗi thuộc về cá nhân, tổ chức nào. Bị đơn cũng chưa từng nhận thông báo hay tài liệu nào về vụ cháy từ cơ quan điều tra kết luận rằng nguyên nhân cháy là do lỗi của bị đơn. HĐXX xét thấy: Theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2022/HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại về vật chất là tổn thất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; người chiếm hữu mà không phải chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại nếu đang nắm giữ, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp tài sản như chủ thể có quyền đối với tài sản tại thời điểm gây thiệt hại. Tại hợp đồng thuê nhà xưởng được ký kết ngày 23/12/2019 giữa Công ty L P nay là Công ty cổ phần Tập đoàn L P (Bên A) và Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H (Bên B). Tại điều 6.2.15 quy định trách nhiệm của Bên B như sau: “Bên B có trách nhiệm bảo vệ, quản lý và sử dụng tài sản thuê đúng công dụng và mục đích, bồi thường mọi hư hỏng, mất mát xảy ra đối với tài sản cho Bên A tại thời điểm Bên B trao trả lại tài sản cho Bên A khi chấm dứt hợp đồng...”. Trong trường hợp này, Công ty L P đã giao tài sản cho Công ty T V H H thông qua hợp đồng cho thuê tài sản hợp pháp, việc sử dụng tài sản là do T V H H quyết định nên T V H H là người chiếm hữu, chi phối đối với tài sản thuê.
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 601 của Bộ luật Dân sự quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm gây ra:
“1. Nguồn nguy hiểm cao độ gồm... hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động... Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”.
Ngoài ra, tại Quyết định xử phạt hành chính ngày 17/7/2020 của Công an tỉnh Bắc Ninh xử phạt Công ty T V H H về việc không thiết kế hệ thống phòng cháy chữa cháy; không trình hồ sơ để thẩm duyệt lại khi cải tạo, thay đổi tính chất sử dụng công trình trong quá trình thi công, sử dụng.
Pháp luật chỉ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người gây thiệt hại là chủ sở hữu tài sản, người chiếm hữu tài sản trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng, hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại. Việc xảy ra cháy tại khu công nghiệp Hạp Lĩnh vào đêm ngày 09, rạng sáng ngày 10/11/2020 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận điểm xuất phát cháy là xuất phát từ bên trong Công ty T V H H; nguyên nhân cháy là do chập mạch điện mà không phải do sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của Công ty L P. Do đó, Công ty T V H H không thể cho rằng là chưa có kết luận cuối cùng về nguyên nhân cháy là do lỗi khách quan hay lỗi chủ quan và lỗi thuộc về cá nhân, tổ chức nào để từ chối bồi thường cho Công ty L P. Việc kết luận cụ thể nguyên nhân cháy là do lỗi chủ quan hay lỗi khách quan và lỗi thuộc về cá nhân, tổ chức nào chỉ là để phục vụ cho việc khởi tố, truy tố cá nhân hay pháp nhân trong vụ án hình sự nên đây chỉ là lời lại ra của bị đơn nhằm từ chối trách nhiệm bồi thường.
Tại bản án số: 21/2022/DS-ST ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Công ty TNHH BQ Tech Vina với Công ty T V H H đối với những tài sản không có bảo hiểm. Phía Công ty T V H H đã thừa nhận lỗi và đã thi hành số tiền bồi thường khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tại bản án số: 34/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh giải quyết về tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội với Công ty T V H H đối với số tiền bảo hiểm cháy nổ bắt buộc mà Tổng công ty bảo hiểm Quân đội phải chi trả cho Công ty TNHH BQ Tech Vina cũng đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại bản án phúc thẩm số: 31/2024/DS-PT ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty T V H H, y án sơ thẩm. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngoài ra, Bản án số 21/2022/DS-ST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Công ty TNHH BQ Tech Vina với Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H đối với những tài sản không có bảo hiểm, đối với những tài sản theo hợp đồng bảo hiểm đã được Công ty bảo hiểm Quân đội chi trả cho Công ty TNHH BQ Tech Vina. Các tài liệu này đã được Bảo hiểm giao nộp và lưu trong hồ sơ vụ án. Do đó, Công ty T V H H cho rằng chưa có đủ căn cứ để xác định tổn thất từ vụ cháy của Công ty L P là do lỗi của bị đơn và Bảo hiểm chưa có đủ căn cứ để thực hiện việc truy đòi bị đơn số tiền đã bồi thường cho Công ty L P là không có căn cứ.
- Về xác định thiệt hại cụ thể: Tại “Báo cáo nhanh” ngày 11/11/2020 của Công ty TNHH Giám định và tư vấn kỹ thuật (Công ty RACO) đã dự phòng bồi thường cho tổn thất tại nhà xưởng số 5 của Công ty L P là 1.850.000.000 đồng (đã trừ mức miễn thường); “Báo cáo tiếp theo số 01” ngày 23/12/2020 đã dự phòng bồi thường cho tổn thất là 1.650.000.000 đồng (đã trừ mức miễn thường); tại “Báo cáo tiếp theo số 02” ngày 21/12/2021 đã giảm mức dự phòng bồi thường đối với tổn thất này là còn 1.444.067.336 đồng và tại “Báo cáo cuối cùng” ngày 10/5/2022 Công ty RACO đã xác định nhà xưởng bị cháy biến dạng hoàn toàn và có giá trị thanh lý thu hồi sắt vụn (BL 36). Sau khi trừ đi mức miễn thường là 5% số tiền tổn thất, tối thiểu 20.000.000 đồng/mỗi vụ tổn thất và giá trị thanh lý thu hồi sắt vụn đã đề xuất số tiền bồi thường cuối cùng cho vụ tổn thất nêu trên là 1.440.989.932 đồng. Các báo cáo giám định của Công ty RACO là dựa trên các chi tiết về hoàn cảnh, diễn biến của tổn thất, tiến trình điều tra giám định hiện trường, các điều tra của giám định viên phối hợp cùng đại diện Công ty L P giám định, đo vẽ chi tiết kết cấu nhà xưởng bị tổn thất, đối chiếu với bản vẽ hoàn công để xác định chi tiết, cụ thể mức độ tổn thất và đề xuất tổng giá trị bồi thường cuối cùng là 1.440.989.932 đồng.
Kết luận nguyên nhân vụ cháy của cơ quan công an là phù hợp với điều tra hiện trường của Công ty RACO. Trong các báo cáo đồng thời cũng nêu rõ nguyên nhân tổn thất là bất ngờ và không lường trước được đối với người được bảo hiểm là Công ty L P, Công ty L P cũng đảm bảo đủ nghiệm thu an toàn PCCC, chưa xuất hiện vi phạm nào làm ảnh hưởng đến nguyên nhân vụ cháy, duy trì liên tục chế độ kiểm tra thiết bị PCCC 1 tuần/1 lần. Tức là phía Công ty L P hoàn toàn không có lỗi.
Bảo hiểm đã bồi thường cho Công ty L P đủ số tiền theo như đề xuất của Công ty RACO. Tại khoản 1 Điều 49 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã quy định: “Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của Bảo hiểm, buộc Công ty T V H H phải có nghĩa vụ bồi hoàn cho Bảo hiểm toàn bộ số tiền mà Bảo hiểm đã bồi thường cho Công ty L P là 1.440.989.932 đồng.
[4.2] Về yêu cầu khởi kiện của Bảo hiểm đề nghị Tòa án buộc Công ty T V H H có nghĩa vụ thanh toán lãi chậm trả đối với khoản tiền bồi thường, tính từ thời điểm 19/5/2022 (ngày Công ty L P có Thư chấp nhận bồi thường và chuyển quyền khiếu nại cho Bảo hiểm) đến ngày theo đơn khởi kiện của Bảo hiểm tính theo lãi suất 10%/năm: Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án tính lãi chậm trả đối với khoản tiền bồi thường. Xét thấy việc các nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện nên cần căn cứ vào quy định tại Điều 217, 218, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 217; 227; 228; 244; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
Điều 365; 584; 589; 601; 357; 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Tổng công ty Bảo hiểm.
Buộc Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H bồi hoàn cho Tổng công ty Bảo hiểm số tiền 1.440.989.932 đồng.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin rút đối với yêu cầu: Về đề nghị áp dụng lãi suất chậm trả là 10%/năm kể từ ngày 19/5/2022 cho đến ngày theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Buộc Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H phải chịu toàn bộ án phí DSST là 55.229.698 đồng. Trả lại Tổng công ty Bảo hiểm số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.615.000 đồng theo Biên lai số 0000332 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hoan |
13
14
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Ngày 09 tháng 8 năm 2024
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 02/2023/TLST - DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST- DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Tổng công ty Bảo hiểm
Địa chỉ trụ sở: Tầng 24, tòa nhà PVI Tower, Lô VP2 Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Đức, chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: 1. Bà Đỗ Minh Hương, chức vụ: Trưởng phòng pháp chế; 2. Ông Nguyễn Đức Anh, chức vụ: Chuyên viên phòng pháp chế; 3. Ông Đào Hữu Hoan, chức vụ: Trưởng phòng – Phòng quản lý nghiệp vụ và bồi thường – Công ty Bảo hiểm Kinh Bắc; 4. Ông Ngô Xuân Thành, chức vụ: Chuyên viên phòng pháp chế thuộc Tổng công ty Bảo hiểm; 5. Ông Nguyễn Mạnh Cường, chức vụ: Chuyên viên P.GQKN BH PHH, VPĐD CSKH Bảo hiểm Phía Bắc; 6. Ông Phạm Trọng Thịnh, chức vụ: Chuyên viên P.GQKN BH PHH, VPĐD CSKH Bảo hiểm Phía Bắc là người đại diện theo ủy quyền của Tổng giám đốc – Tổng công ty Bảo hiểm (Văn bản ủy quyền lập ngày 27/12/2022, ngày 04/7/2023 và ngày 08/5/2024).
Bị đơn: Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H
Địa chỉ trụ sở: TĐ 512, cụm công nghiệp Hạp Lĩnh (thuê NX Công ty CP tư vấn xây dựng công trình điện Hà Nội), phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông LI, CHANGJIANG, chức vụ: Giám đốc
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Công ty Luật TNHH BETTER. Địa chỉ trụ sở: Thửa đất U05-67, khu D – Đô thị mới Dương Nội, phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Người diện theo pháp luật: Bà Lại Thị Trang, chức vụ: Giám đốc là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H (Văn bản ủy quyền lập ngày 14/11/2023)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP Tập đoàn L P
Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Kim Chung, chức vụ: Tổng Giám đốc
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 217; 227; 228; 244; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm;
Điều 365; 584; 589; 601; 357; 468 của Bộ luật dân sự 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Tổng công ty Bảo hiểm.
1.1. Buộc Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H bồi hoàn cho Tổng công ty Bảo hiểm số tiền 1.440.989.932 đồng.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin rút đối với yêu cầu: Về đề nghị áp dụng lãi suất chậm trả là 10%/năm kể từ ngày 19/5/2022 cho đến ngày theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Buộc Công ty TNHH Bao bì và in ấn T V H H phải chịu toàn bộ án phí DSST là 55.229.698 đồng. Trả lại Tổng công ty Bảo hiểm số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.615.000 đồng theo Biên lai số 0000332 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí
Nghị án kết thúc cùng ngày
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
21
Bản án số 28/2024/DS - ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 28/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
