Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH MIỆN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 22-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoài - Ông Vương Quốc Quỹ
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Phượng– Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn H; Sinh ngày: 05/5/1997;

Nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Vũ Văn Ú, sinh năm: 1976

Con bà: Đặng Thị M, sinh năm: 1976;

Vợ: An Thị P, sinh năm 2000; Có 02 con, lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Bị hại: Bà Trần Thị Đ (đã chết)

Người đại diện của bị hại:

  1. Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1956 (chồng bị hại)
  2. Anh Đinh Văn T, sinh năm 1981, anh Đinh Văn C, sinh năm 1987, anh Đinh Văn B, sinh năm 1994 (các con bị hại)

Cùng nơi cư trú: Khu Triệu Thái, thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

  1. Cụ Tạ Thị C1, sinh năm 1930 (mẹ bị hại)

Nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ Tạ Thị C1, anh Đinh Văn T, Đinh Văn C, Đinh Văn B: Ông Đinh Văn H1. Ông H1 có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Văn Ú, sinh năm: 1976

Nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn H có giấy phép lái xe hạng A2 theo quy định. Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 10/01/2024, H điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda, loại SH350I, dung tích xi lanh 329,6cm³ đi từ nhà ra quốc lộ C để đến thành phố Hải Phòng làm thủ tục đăng ký xe. Khi đi qua khu vực ngã tư B, xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương, H rẽ phải vào đường tỉnh lộ 392 hướng thị trấn T, huyện T đi huyện N, tỉnh Hải Dương. Đến Km 21 thuộc địa phận khu T, thị trấn T, huyện T, tại đây mặt đường rộng 06 mét được trải nhựa apphan tương đối bằng phẳng, có kẻ vạch nét đứt màu vàng chia đôi phần đường ngược chiều. Lấy hướng huyện N đi ngã tư B, xã Q, huyện G để xác định chiều trái phải. Lề đường bên phải rộng 01 mét, tiếp giáp với hàng cây và mương nước. Lề đường bên trái rộng 01 mét, tiếp giáp với vườn cây. Lúc này, H phát hiện phía trước cùng chiều, cách khoảng 05 mét có một nhóm học sinh đi xe đạp điện dàn hàng ngang, cách tim đường khoảng 02 mét. Do muốn vượt các xe đạp điện trên, H bật xi nhan trái, bấm còi báo hiệu, điều khiển xe mô tô sang phần đường ngược chiều. Khi H điều khiển xe mô tô vượt các xe đạp điện thì phát hiện xe máy điện do bà Trần Thị Đ điều khiển ngược chiều bên phần đường của mình. Do H điều khiển xe mô tô vượt không đảm bảo an toàn, xin vượt khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, khoảng cách quá gần nên không kịp xử lý dẫn đến phần cánh yếm bên trái, phần càng xe và bánh xe phía trước xe mô tô đã va chạm với giỏ xe, càng xe và khung kim loại bảo vệ phía dưới, phía trước bình ắc quy bên trái xe máy điện làm xe máy điện bị đẩy ngược lại, đổ ở phần đường bên phải. Hậu quả: Bà Đ được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H nhưng đã tử vong. Kết quả xét nghiệm xác định: H không sử dụng bia, rượu, chất ma tuý hoặc chất kích thích mạnh khác.

Tại Kết luận giám định tử thi số 15/KLGĐTT-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân chết đối với bà Trần Thị Đ: Tử thi hai mắt nhắm, đồng tử giãn, bầm tụ máu mắt hai bên. Hai lỗ tai, mũi và miệng có máu. Sây sát da sưng nề, bầm tụ máu vùng đỉnh trái. Xương sọ tại vị trí có đường vỡ ra trước dài 08cm tạo khe vỡ rộng 0,2cm. Gãy 1/3 giữa xương cẳng chân trái. Sây sát da bầm tụ máu rải rác toàn thân, Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não (vỡ xương đỉnh trái).

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Văn H đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bà Trần Thị Đ tổng số tiền là 200.000.000đ. Ông Đinh Văn H1 là đại diện hợp pháp của người bị hại xác định về trách nhiệm dân sự đã thoả thuận giải quyết xong, không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ Giấy phép lái xe hạng A2 tên Vũ Văn H, 01 xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH350I và 01 xe máy điện.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS, ngày 21/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố Vũ Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về vật chứng: trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A2, tên Vũ Văn H.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 10/01/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH350I đi trên đường T, hướng thị trấn T, huyện T đi huyện N, tỉnh Hải Dương. Khi đến K, thuộc địa phận khu T, thị trấn T, huyện T, bị cáo muốn vượt các phương tiện cùng chiều phía trước nên đã điều khiển xe moto sang làn đường bên trái để vượt, do không chú ý quan sát nên không phát hiện có bà Trần Thị Đ điều khiển xe đạp điện chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt dẫn đến xe mô tô do H điều khiển va chạm với xe máy điện do bà Đ điều khiển ngược chiều làm bà Đ tử vong.

Tại Kết luận giám định tử thi số 15/KLGĐTT-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân chết đối với bà Trần Thị Đ: Chấn thương sọ não (vỡ xương đỉnh trái).

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét phương tiện, kết luận giám định tử thi và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét, bị cáo có Giấy phép lái xe hạng A2 theo quy định nên nhận thức được khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định về vượt xe để đảm bảo an toàn, tuy nhiên, bị cáo vẫn thực hiện hành vi điều khiển vượt xe khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ: “2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt,……” và điểm a khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ: “5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây: a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này...”. Sự việc xảy ra do lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người bị hại.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình diều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000đ, bị cáo được Cục trưởng cục tham mưu, tác chiến K20 tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự dịp Tết Nguyên đán 2017, tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhẫn thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được người đại diện của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, bị cáo có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương và việc bị cáo tự cải tạo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo.

Bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hai con còn nhỏ tuổi, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

[6]. Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô xe mô tô nhân hiệu Honda, loại SH350I bị cáo điều khiển liên quan đến tai nạn thuộc sở hữu của ông Vũ Văn Ú là bố bị cáo, xe máy điện thuộc sở hữu của ông Đinh Văn H1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Ú và ông H1 là phù hợp.

Giấy phép lái xe hạng A2 tên Vũ Văn H là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên tuyên trả lại.

[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự,

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Xử phạt: bị cáo Vũ Văn H 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 (hai mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Văn H.

  1. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H 01 Giấy phép lái xe hạng A2, số H, tên Vũ Văn H, do Cục C2 – Bộ C3 cấp ngày 20/4/2018.
  2. Về án phí: buộc bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Thanh Miện;
  • - CQCSĐT Công an huyện Thanh Miện;
  • - CQTHAHS Công an huyện Thanh Miện;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Miện;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 14 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger