|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/4/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Yến
- Ông Nguyễn Hữu Huân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 406/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Chu Thị T, sinh năm 1991 (có mặt)
- HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- - Bị đơn: Anh Vi Văn L, sinh năm 1990 (có mặt)
- Trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T1, chức vụ: Tổng Giám đốc. Địa chỉ: Số A phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Công T2, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C, tỉnh Bắc Giang. Địa chỉ: Đường T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/8/2023; đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 09/01/2024; biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2023, ngày 10/01/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Chu Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 18/3/2013 chị và anh Vi Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu và cùng thống nhất đi đến việc kết hôn. Hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị về nhà anh L ở cùng gia đình anh. Đến khoảng tháng 5 năm 2023, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã nhau, không có tiếng nói chung. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở C, Lạng Sơn ở và vợ chồng ly thân từ đó đến nay.
Từ thời điểm đó cho đến nay, vợ chồng không quan tâm và không có trách nhiệm gì với nhau. Đến nay vợ chồng chị chấm dứt hoàn toàn mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế. Vợ chồng chị đã cố gắng hàn gắn và được 2 bên gia đình động viên đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị và anh L có ba con chung là cháu Vi Thị Hồng N, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Thị Ánh N1, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Trọng T3, sinh ngày 20/5/2016. Cháu N và cháu N1 đang học lớp 5B, trường tiểu học T4, C, Lạng Sơn. Cháu T3 học lớp 2C trường tiểu học T4, C, Lạng Sơn.
Khoảng giữa năm 2013 thì anh L bị tai nạn giao thông, ảnh hưởng đến sức khỏe, không lao động được nên không có thu nhập để nuôi con. Hiện tại chị đi làm thuê tại địa phương thu nhập từ 6-7 triệu/01 tháng, thỏa thuận miệng, không ký hợp đồng lao động. Hiện tại cả ba con đang ở với chị, để thuận tiện cho việc chăm sóc, đảm bảo cho việc phát triển bình thường của cháu, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về công nợ: Trong quá trình chung sống với anh L, vợ chồng chị có vay vốn Ngân hàng C chi nhánh huyện L tại hợp đồng vay số 6600000724913357, ngày vay 27/02/2023, lãi suất cho vay 6,6%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 130%, hạn trả 14/02/2028, số tiền vay: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng). Đến ngày 14/3/2024 chị đã trả nợ một phần số tiền vay là 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng). Đến nay còn nợ Ngân hàng 50.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Do anh L bị tai nạn giao thông, không đi lao động được nên không có thu nhập, chị tự nguyện nhận trách nhiệm trả số nợ trên cho Ngân hàng theo thỏa thuận với Ngân hàng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2043 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Vi Văn L trình bày:
Về điều kiện, thời gian kết hôn, con chung như chị T trình bày là đúng.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cùng nuôi dạy con và làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Nhưng bắt đầu từ tháng 5 năm 2023, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị T và bố mẹ anh thường xuyên có lời qua tiếng lại, không có tiếng nói chung trong sinh hoạt gia đình. Chị T đã đưa 03 con về nhà bố mẹ đẻ ở C, Lạng Sơn ở và vợ chồng anh đã ly thân từ đó đến nay. Tại phiên tòa anh trình bày đồng ý ly hôn với chị T.
Thời điểm khoảng giữa năm 2013 thì anh bị tai nạn giao thông, bị ảnh hưởng đến sức khỏe, không lao động được, nên không có thu nhập để nuôi con. Hiện tại cả 03 con đang ở với chị T, nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, thì anh đồng ý cho 03 con ở cùng và do chị T nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Anh không đề nghị giải quyết.
Về công nợ: Vào đầu năm 2023 chị T có đứng tên đại diện hộ gia đình để vay vốn ngân hàng C chi nhánh huyện L, số tiền 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng), anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì giải quyết số tiền nợ, buộc chị T phải trả số tiền 100.000.000 đồng cho Ngân hàng chính sách huyện C, theo thỏa thuận vay với Ngân hàng.
Tại phiên tòa,
Chị T giữ nguyên các ý kiến đã nêu, đề nghị ly hôn anh L, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng 03 con và tự nguyện trả số tiền vay còn nợ Ngân hàng C chi nhánh huyện L số tiền gốc 50.000.000 đồng và lãi phát sinh theo hồ sơ vay vốn hộ nghèo với Ngân hàng.
Anh L giữ nguyên các ý kiến đã nêu và bổ sung: Anh đồng ý ly hôn và đồng ý cho chị T nuôi dưỡng 03 con. Về khoản nợ 100.000.000 đồng với Ngân hàng C, anh được biết chị T đã trả được 50.000.000 đồng tiền gốc, số tiền còn lại phải trả là 50.000.000 đồng tiền nợ gốc và lãi phát sinh thì anh đồng ý việc chị T nhận trả số nợ còn lại này theo thỏa thuận hồ sơ đã ký với Ngân hàng.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C
Do ông Dương Công T2, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C, tỉnh Bắc Giang đại diện theo ủy quyền có văn bản trình bày ý kiến như sau:
Căn cứ hồ sơ vay vốn chương trình hộ nghèo của hộ gia đình ông (bà) Chu Thị T và ông Vi Văn L; địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện L; người đại diện hộ gia đình vay vốn đứng tên là bà Chu Thị T, người thừa kế vay vốn là ông Vi Văn L (quan hệ với người đại diện vay vốn là chồng), cụ thể:
- - Số hợp đồng (mã món vay): 6600000724913357.
- - Ngày vay: 27/02/2023; Hạn trả: 14/02/2028.
- - Số tiền vay: 100.000.000 đồng (bằng chữ một trăm triệu đồng).
- - Lãi suất cho vay: 6,6%/năm; lãi suất nợ quá hạn: 130%.
- - Mục đích vay vốn: Nguồn vốn vay từ NHCSXH được đầu tư cải tạo vườn cây ăn quả 0,4 ha, số tiền 55.000.000 đồng và mua trâu sinh sản, 02 con, số tiền 45.000.000 đồng.
Đến ngày 14/3/2024 bà Chu Thị T đã thực hiện trả một phần số tiền vay là 50.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/4/2024 là 50.072.328 đồng, trong đó nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi 72.328 đồng. Đề nghị Tòa giải quyết phân định quyền lợi, nghĩa vụ trả nợ đối với bà T và ông L theo đúng quy định pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Chu Thị T được ly hôn với anh Vi Văn L.
- - Về con chung: Giao cho chị Chu Thị T nuôi 03 con chung là cháu Vi Thị Hồng N, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Thị Ánh N1, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Trọng T3, sinh ngày 20/5/2016. Anh L có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
- - Về cấp dưỡng nuôi, tài sản chung Không đặt ra xem xét.
- - Về nghĩa vụ chung đối với tài sản: Buộc chị T phải số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng và lãi phát sinh theo hồ sơ vay vốn hộ nghèo đã ký với Ngân hàng C chi nhánh huyện L.
- - Về án phí: Do anh L và chị T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Chu Thị T có đơn xin ly hôn, giải quyết về con chung, công nợ chung với anh Vi Văn L nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS) xác định quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị T kết hôn với anh Vi Văn L trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 18 tháng 3 năm 2013, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ban đầu vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh sinh mâu thuẫn, trầm trọng nhất từ khoảng tháng 5/2023. Nguyên nhân do quan điểm sống không phù hợp, hai vợ chồng không có tiếng nói chung, có mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình, dẫn đến cuộc sống gia đình không được hạnh phúc. Chị T đã đưa 03 con về nhà bố mẹ đẻ ở từ thời điểm đó đến nay. Giữa chị và anh L đã chấm dứt mọi quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy chị T, anh L đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận cho chị Chu Thị T được ly hôn với anh Vi Văn L.
[2.2]. Về con chung: Chị Chu Thị T và anh Vi Văn L có 03 con chung là cháu Vi Thị Hồng N, sinh ngày 05/12/2013 và cháu Vi Thị Ánh N1, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Trọng T3, sinh ngày 20/5/2016.
Chị T và anh L đều thống nhất đề nghị giao con cho chị T nuôi dưỡng. Xét thấy: Hiện tại các cháu N, N1, T3 đang ở cùng chị T. Hiện tại anh L do ảnh hưởng của tai nạn giao thông nên không lao động được, không có thu nhập, không đảm bảo để chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Các con đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Do đó, để tránh xáo trộn về cuộc sống, ảnh hưởng đến tâm sinh lý, đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất cho cháu N, N1, T3, cần giao cháu N, N1, T3 cho chị T nuôi dưỡng. Anh L được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung: Chị T và anh L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4]. Về công nợ chung: Trong quá trình chung sống, hộ gia đình anh L do chị T đại diện hộ đã ký hồ sơ vay vốn hộ nghèo Ngân hàng C chi nhánh huyện L tại hợp đồng vay số 6600000724913357, ngày vay 27/02/2023, lãi suất cho vay 6,6%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 130%, hạn trả 14/02/2028, số tiền vay: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng). Đến ngày 14/3/2024 chị T đại diện hộ đã tự nguyện trả nợ một phần số tiền vay là 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng). Đến nay còn nợ Ngân hàng 50.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Xác định đây là khoản vay của hộ gia đình, anh L và chị T đều có nghĩa vụ phải trả nợ. Tuy nhiên, trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị T và anh L đã thống nhất và có ý kiến trình bày: Do anh L bị tai nạn giao thông, không đi lao động được, không có thu nhập để trả nợ nên chị T tự nguyện nhận trách nhiệm trả số nợ trên cho Ngân hàng bao gồm nợ gốc và lãi phát sinh theo hồ sơ vay vốn đã ký với Ngân hàng. Do đó, cần giao cho chị T trả số nợ gốc 50.000.000 đồng cộng lãi phát sinh và thời hạn trả nợ theo thỏa thuận đã ký với Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.
[3]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[4]. Về án phí: Chị Chu Thị T, anh Vi Văn L là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, là thành viên hộ nghèo nên được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả chị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007895 ngày 30/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Chu Thị T được ly hôn với Vi Văn L.
- Về con chung: Giao cho chị Chu Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vi Thị Hồng N, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Thị Ánh N1, sinh ngày 05/12/2013; cháu Vi Trọng T3, sinh ngày 20/5/2016.
Anh Vi Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về công nợ chung: Giao cho chị Chu Thị T phải trả số tiền vay cho Ngân hàng chính sách xã hội Phòng giao dịch huyện C, tỉnh Bắc Giang số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng) cộng lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng số (mã món vay) 6600000724913357 đã ký với Ngân hàng, thời hạn trả: Ngày 14/02/2028.
- Về án phí: Hoàn trả chị Chu Thị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0007895 ngày 30/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Về kháng cáo: Chị Chu Thị T, anh Vi Văn L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Yến | Giáp Thị Loan |
| Nguyễn Hữu Huân |
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |
Gửi án cho T5; EF23 563 5251 V
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Giáp Thị Loan |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa T-L
