TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS - ST
Ngày: 21/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Bắc.
Bà Nguyễn Thị Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn N; sinh năm: 1989 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T; sinh năm 1967; Con bà: Phạm Thị L; sinh năm: 1972; Bị cáo có vợ là Trần Thị Thu T1; sinh năm 1989 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2024 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Đào Quang T2; sinh năm 1987; Địa chỉ: Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Vào khoảng 07 giờ 15 phút, ngày 19/4/2024, anh Đào Quang T2 đi đến nhà Trần Văn N để nói chuyện vì trước đó khoảng 10 đến 15 ngày, Bị cáo và T2 có đi uống Bia, sau đó Bị cáo nghi ngờ anh T2 có quan hệ tình cảm với vợ của Bị cáo là chị Trần Thị Thu T1. Khi anh T2 vào nhà Bị cáo và ngồi trên ghế tại phòng khách trong nhà, thì có con chó đứng trước cửa nhà Bị cáo sủa to tiếng, anh T2 có bảo với Bị cáo ra quát con chó, Bị cáo đã ra cửa quát đuổi chó rồi đóng cửa chính lại, sau đó Bị cáo vào phòng khách ngồi nói chuyện với anh T2. Bị cáo yêu cầu T2 phải quỳ xuống để xin lỗi Bị cáo và hai con của Bị cáo không sẽ chém chết tại đây, T2 nói không có quan hệ bất chính gì với vợ của Bị cáo nên không xin lỗi. Nghe thấy vậy Bị cáo đã dùng tay phải với lấy 01 cốc thuỷ tinh cao khoảng 07cm, miệng cốc rộng khoảng 05cm, đáy cốc rộng khoảng 04cm, để trên mặt bàn uống nước cách chỗ Bị cáo ngồi khoảng 01m đứng lên ném trúng vào vùng trán của T2 đang ngồi ở ghế gần đối diện với Bị cáo. T2 bảo Bị cáo “mày làm như thế thì không được đâu”. Bị cáo lấy thêm một cái cốc ném vào người T2 nhưng không gây thương tích. T2 đứng dậy dùng tay phải cầm chiếc bình đựng nước bằng thủy tinh, cao khoảng 20cm, miệng bình rộng khoảng 07cm, đáy bình rộng khoảng 08cm ở trên bàn đập 01 phát về phía Bị cáo nhưng Bị cáo dùng tay trái đỡ được, T2 vẫn cầm bình đựng nước rồi chạy vòng qua bàn uống nước sang chỗ Bị cáo, lúc này Bị cáo đang cúi xuống để lấy thanh kiếm ở dưới gầm ghế thì T2 dùng tay phải cầm bình thủy tinh đập một phát trúng vào vùng chẩm của Bị cáo làm Bị cáo ngã ra nền nhà. T2 chạy ra mở cửa ngách nhưng không mở được. Lúc này, Bị cáo cầm 01 thanh kiếm mũi nhọn có tổng chiều dài 91,4cm, thân kiếm bằng kim loại màu trắng xám dài 66cm, bản rộng nhất là 3,5cm, sống kiếm chỗ rộng nhất là 0,5cm, cán kiếm bằng gỗ ở tay phải rồi chạy ra chỗ T2 cầm kiếm chém một phát vào bả vai trái, một phát vào vùng ngực trái của T2. T2 lao vào giằng co kiếm với Bị cáo, thì T2 bị thương ở lòng bàn tay trái, Bị cáo tiếp tục dùng kiếm chém một phát vào cẳng tay trái, một phát vào thành bụng trái và một phát vào bả vai trái T2. T2 mở được cửa ngách đi ra ngoài rồi đến Công an xã T, huyện Đ trình báo sự việc và đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ đến ngày 26/4/2024 thì ra viện.
* Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
- - 01 thanh kiếm tự chế có mũi nhọn, tổng chiều dài 91,4cm, thân kiếm bằng kim loại màu trắng xám dài 66cm, bản rộng nhất 3,5cm, lưỡi kiếm bị cong vênh. Cán kiếm bằng gỗ có vết nứt dọc theo cán kiếm, trên cán kiếm có hai khuy bằng kim loại màu trắng bạc hình tròn. Khuy ở cuối cán kiếm có chu vi 11,1cm, khuy thứ 2 có chu vi 30cm, dầy 0,3cm (đã được niêm phong).
- - Các mảnh vỡ thuỷ tinh của cốc thuỷ tinh và bình thuỷ tinh và 01 nắp nhựa (đã được niêm phong).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, B hại khai về việc bị đánh diễn biến sự việc như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
2.1. Đối với kết quả giám định thương tích, vật gây thương tích và hình ảnh như sau:
- * Giám định thương tích đối với Đào Quang T2: Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 95/2024/KLTTCT-TTPY, ngày 10/06/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: 01 sẹo phần mềm ở vùng trán phải, có kích thước: 2cm x 0,2cm, sẹo phẳng, màu nâu = 3%; 01 sẹo phần mềm ở vùng ngực trái, trên đường nách trước, cách hõm nách trái 3cm, có kích thước: 1,5cm x 0,2cm, sẹo phẳng, màu nâu = 1%; 01 sẹo phần mềm ở thành bụng trái, có kích thước: 4,7 cm x 0,2cm, sẹo phẳng, màu hồng = 1%; 02 sẹo phần mềm ở bả vai trái (Trong đó: Sẹo 1 có kích thước: 7,2cm x 0,5cm, sẹo phẳng, màu trắng ngà = 2%; Sẹo 2 cách sẹo 1 là 6cm, có kích thước: 8cm x 0,2cm, sẹo phẳng, màu trắng ngà = 2%); 01 sẹo phần mềm ở mặt trong sau căng tay trái, có kích thước: 17cm x 0,3cm, sẹo phẳng, màu nâu = 2%; 01 sẹo phần mềm ở lòng bàn tay trái, có kích thước: 1,3 cm x 0,1cm, sẹo phẳng, màu nâu = 1%. Đứt gân gấp nông cẳng tay trái, đã khâu nối phục hồi (Điện thần kinh cơ chi trên kết quả: Dẫn truyền vận động và cảm giác các dây thần kinh ngoại vi hai chi trên trong giới hạn bình thường) = 1%. Áp dụng cách tính tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh T2 theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần là 12,30% (làm tròn 12%). Kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh T2 tại thời điểm giám định là 12%.
- * Giám định thương tích đối với Trần Văn N: Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 102/2024/KLTTCT-TTPY, ngày 18/06/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: 01 sẹo phần mền ở vùng chẩm, có kích thước: 1,5cm x 0,3cm, sẹo phẳng, màu hồng = 1%. Ở giảm tuỷ trọng thuỳ trái và tụ dịch xoang hàm trái là tổn thương cũ nên Trung tâm Pháp y tỉnh Đ không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho tổn thương này. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Trần Văn N tại thời điểm giám định là 1%.
- * Giám định vật gây thương tích.
- - Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số: 21/2024/KLVGTT-TTPY, ngày 10/06/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
- + Thanh kiếm đã thu giữ (như đã mô tả ở phần vật chứng thu giữ) có thể gây nên thương tích cho Đào Quang T2 và phù hợp với đặc điểm, cơ chế hình thành dấu vết thương tích do tác động ngoại lực của vật sắc nhọn gây nên.
- + Các mảnh vỡ thuỷ tinh có thể gây ra vết thương ở vùng trán của Đào Quang T2 và phù hợp với đặc điểm, cơ chế hình thành dấu vết thương tích do tác động ngoại lực của vật sắc gây nên.
- - Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số: 22/2024/KLVGTT-TTPY, ngày 18/06/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Các mảnh vỡ thuỷ tinh đã mô tả ở trên có thể gây ra vết thương ở vùng chẩm của Trần Văn N và phù hợp với đặc điểm, cơ chế hình thành dấu vết thương tích do tác động ngoại lực của vật sắc gây nên.
* Giám định hình ảnh:
- - Bản kết luận giám định số: 1588/KL- KTHS, ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin video T1, T2, T3 lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
- - Căn cứ vào mẫu so sánh và các tài liệu liên quan gửi kèm, không đủ cơ sở xác định lý do tại sao không có đoạn video thời gian từ 09 giờ 05 phút đến 09 giờ 06 phút, ngày 19/4/2024 mà chỉ có 01 đoạn video thời gian từ 09 giờ 03 phút đến 09 giờ 04 phút và 01 đoạn video thời gian từ 09 giờ 06 phút 42 giây đến 09 giờ 09 phút 59 giây, ngày 19/4/2024.
* Giám định pháp y Tâm thần:
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 114//KLGĐ, ngày 02/8/2024 của Trung tâm P tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: Tại thời điểm thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích, xảy ra ngày 19/4/2024, tại đội 18, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Trần Văn N không bị bệnh Tâm T3, Trần Văn N đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Đào Quang T2 gây tổn thương 01% sức khỏe của Trần Văn N. Ngày 13/8/2024 Bị cáo có đơn yêu cầu khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích đối với Đào Quang T2. Ngày 20/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định khởi tố bị can đối với Đào Quang T2 về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, Bị hại không khiếu nại các kết luận giám định nêu trên.
2.2. Việc xử lý các vấn đề có liên quan trước khi truy tố.
* Việc bồi thường dân sự:
- + Đối với Trần Văn N: Bị cáo đã bồi tiền thuốc men, viện phí, một phần tổn hại sức khoẻ và các khoản chi phí khác cho anh Đ Quang T2 với tổng số tiền là: 100.000.000 đồng. Sau khi ra viện sức khoẻ đã ổn định anh T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- + Trần Văn N yêu cầu anh Đào Quang T2 bồi thường tiền thuốc men, viện phí, một phần tổn hại sức khỏe và các khoản chi phí khác số tiền là 40.000.000 đồng.
* Đối với yêu cầu rút khởi tố:
Ngày 18/10/2024 bị cáo Trần Văn N có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị can Đào Quang T2 và không yêu cầu bị can Đào Quang T2 bồi thường gì thêm.
Ngày 19/10/2024 Đào Quang T2 có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo Trần Văn N.
Ngày 20/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can số: 01/QĐ- VKSHĐB ngày 20/10/2024 đối với bị can Đào Quang T2.
Tại bản Cáo trạng số: 218/CT-VKSHĐB ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Trần Văn N về tội "Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Đề nghị xử phạt Bị cáo: Từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là; 05 năm. Giao Bị cáo cho UBND xã T giám sát, giáo dục. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục đối với Bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Do Bị cáo và Bị hại đã thoả thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đã bồi thường xong nên không đề nghị xem xét.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kiếm mũi nhọn, tổng chiều dài 91,4cm, thân kiếm bằng kim loại màu trắng xám dài 66cm, bản rộng nhất 3,5cm, sống kiếm chỗ rộng nhất là 0,5cm, lưỡi kiếm bị cong vênh. Cán kiếm bằng gỗ có vết nứt dọc theo cán kiếm, trên cán kiếm có hai khuy bằng kim loại màu trắng bạc hình tròn. Khuy ở cuối cán kiếm có chu vi 11,1cm, rộng 2cm. Khuy thứ 2 có chu vi 9cm, rộng 1,5cm. Nối cán kiếm và thân kiếm có miếng kim loại hình tròn có chu vi 30cm, dày 0,3cm. Tình trạng kiếm đã cũ và 01 hộp bìa carton màu vàng bên trong hộp bìa carton có các mảnh vỡ thuỷ tinh và 01nắp nhựa không còn giá trị sử dụng.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị huỷ bỏ mọi biện pháp ngăn chặn đối với Bị cáo.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng. Lời nói sau cùng Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Lời khai của Bị cáo, Bị hại trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Sáng ngày 19/4/2024, tại nhà ở của Trần Văn N thuộc Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bị cáo đã có hành vi dùng 01 chiếc cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm ném vào vùng trán phải của T2 và dùng kiếm là hung khí nguy hiểm chém vào bả vai trái, ngực trái, cẳng tay trái, bụng trái của Đào Quang T2 gây tổn thương 12% sức khỏe. Hành vi trên của Bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố Bị cáo về tội: "Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật, Bị cáo không bị oan sai.
[2]. Về tính chất của vụ án: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bản thân Bị cáo và Bị hại là bạn bè thân thiết từ nhiều năm, thường hay gặp nhau để cùng đi uống rượu, uống bia, chỉ vì Bị cáo đã nóng vội, thiếu cân nhắc trong cách giải quyết dẫn đến
gây thương tích cho B hại và ngay cả chính Bị cáo cũng là Bị hại trong vụ án. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3]. Về nhân thân và các tình tiết tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn N được sinh ra tại Điện Biên. Từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau đó nghỉ học ở nhà động kiếm sống, phụ giúp gia đình. Năm 2017 Bị cáo kết hôn với chị Trần Thị Thu T1 và có 02 người con chung; con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử. Trước khi xảy ra sự việc trên, Bị cáo là công dân tốt, luôn thực hiện tốt các quy định của địa phương, nhiệt tình tham gia các phong trào nơi Bị cáo sinh sống.
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà Bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường cho Bị hại 100.000.000 đồng; Bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo, nên Bị cáp được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51/BLHS. Từ những đánh giá nêu trên HĐXX thấy rằng Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tốt. Vì vậy không nhất thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho Bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự, để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Việt Nam và cũng để Bị cáo có cơ hội cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:
[4.1] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và Bị hại đã thoả thuận thống nhất được với nhau về bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy HĐXX không xem xét.
[4.2] Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Vật chứng vụ án cần xử lý như sau: Tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 thanh kiếm mũi nhọn, tổng chiều dài 91,4cm, thân kiếm bằng kim loại màu trắng xám dài 66cm, bản rộng nhất 3,5cm, sống kiếm chỗ rộng nhất là 0,5cm, lưỡi kiếm bị cong vênh. Cán kiếm bằng gỗ có
vết nứt dọc theo cán kiếm, trên cán kiếm có hai khuy bằng kim loại màu trắng bạc hình tròn. Khuy ở cuối cán kiếm có chu vi 11,1cm, rộng 2cm. Khuy thứ 2 có chu vi 9cm, rộng 1,5cm. Nối cán kiếm và thân kiếm có miếng kim loại hình tròn có chu vi 30cm, dày 0,3cm. Tình trạng kiếm đã cũ và 01 hộp bìa carton màu vàng bên trong hộp bìa carton có các mảnh vỡ thuỷ tinh và 01nắp nhựa không còn giá trị sử dụng.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với Đào Quang T2 gây tổn thương 01% sức khỏe cho bị cáo Trần Văn N. Ngày 13/8/2024 Trần Văn N có đơn yêu cầu khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích đối với Đào Quang T2. Ngày 20/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định khởi tố bị can đối với Đào Quang T2 về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại khoản 1 Điều 134/BLHS. Ngày 18/10/2024 Trần Văn N làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với Đào Quang T2. Ngày 20/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Đào Quang T2. Xét việc rút đơn yêu cầu khởi tố của Bị cáo là tự nguyện và việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đình chỉ vụ án đối với bị can Đào Quang T2 là có cơ sở. Do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[7]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn N: 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là: 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/11/2024.
Giao Bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 05/HSST- LCĐKNCT ngày 19/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo Trần Văn N.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận về việc Bị cáo và Bị hại không yêu cầu.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kiếm mũi nhọn, tổng chiều dài 91,4cm, thân kiếm bằng kim loại màu trắng xám dài 66cm, bản rộng nhất 3,5cm, sống kiếm chỗ rộng nhất là 0,5cm, lưỡi kiếm bị cong vênh. Cán kiếm bằng gỗ có vết nứt dọc theo cán kiếm, trên cán kiếm có hai khuy bằng kim loại màu trắng bạc hình tròn. Khuy ở cuối cán kiếm có chu vi 11,1cm, rộng 2cm. Khuy thứ 2 có chu vi 9cm, rộng 1,5cm. Nối cán kiếm và thân kiếm có miếng kim loại hình tròn có chu vi 30cm, dày 0,3cm. Tình trạng kiếm đã cũ và 01 hộp bìa carton màu vàng bên trong hộp bìa carton có các mảnh vỡ thuỷ tinh và 01nắp nhựa không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Trần Văn N; bị hại Đào Quang T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2024).
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 28/2024/HS - ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 28/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt Trần Văn N 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo
