|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Vũ
2. Ông Ngô Quang Vinh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phùng Bích Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST- HS, ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST - HS ngày 07/6/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Xuân H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/9/1977, tại thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi thường trú: Phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi tạm trú: Khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12.Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1 (Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Bố đẻ: Nguyễn Xuân H1; Sinh năm 1948; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; Cả bố và mẹ đều trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ 2; Vợ: Đô Thị Thanh H2, sinh năm 1981;Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; Vợ con hiện trú tại phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
- Họ và tên: Nguyễn Thành C1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/10/1978, tại huyện P, tỉnh Hưng Yên; Nơi thường trú: phường T, quận H, thành phố Hà Nội;Nơi tạm trú: Khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1 (Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Bố đẻ: Nguyễn Văn T; Sinh năm 1943; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L; Sinh năm 1946; Cả bố và mẹ đều trú tại phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ 4; Vơ: Đặng Thị Lan H3; sinh năm 1980; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2014; Vợ, con hiện trú tại phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Họ tên: Triệu Quốc K;Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/9/1979, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: Khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Công nhân; Đoàn thể: Không; Bố đẻ: Triệu Văn T1; Sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Hoàng Thị Y; Sinh năm 1958; Cả bố và mẹ đều trú tại xã L, huyện T, thành phố Hà Nội; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Thu P; Sinh năm 1982; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Vợ, con hiện trú tại thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Họ tên: Phan Tiến Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/02/1975, tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: Khu G, xã H, thị xã P,tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Phan Thanh V; Sinh năm 1942 (Đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị Lệ T2; Sinh năm 1944; Hiện trú tại phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị L; Sinh năm 1976; Con: Có 01 con, sinh năm 2003; Vợ, con hiện trú tại phường K; quận Đ, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Các bị cáo đều có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Hữu N, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ ( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, tại lán ở công nhân của công trường đang san lấp mặt bằng của Công ty T4 trong khu công nghiệp P thuộc khu F xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; tổ công tác của Công an thị xã P kiểm tra phát hiện 04 đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền gồm: Bị cáo Triệu Quốc K,; Nguyễn Thành C1, Phan Tiến Đ, và Nguyễn Xuân H trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.750.000 đồng và 52 quân bài tú lơ khơ. Ngoài ra, tổ công tác thu giữ của Nguyễn Thành C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh lắp sim số 0936.143226, 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 4.230.000 đồng; thu giữ của Triệu Quốc K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng lắp số sim 0989.648486 và 01 ví giả da màu nâu bên trong só số tiền 250.000 đồng; thu giữ của Phan Tiến Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu 215 4G màu đen lắp số sim 0962.373672. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng cùng vật chứng về Cơ quan CSĐT- Công an thị xã P tiếp tục làm việc.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Bị cáo Triệu Quốc K, Nguyễn Thành C1, Phan Tiến Đ và Nguyễn Xuân H đều là công nhân kỹ thuật công trình của Công ty T4 đang làm việc tại khu công nghiệp P. Khoảng 21 giờ 30 ngày 25/02/2024, sau khi ăn cơm, bốn người về lán của công trình đang thi công để ngủ thì thấy trên mặt bàn uống nước có 01 bộ bài tú lơ khơ nên rủ nhau đánh phỏm được thua bằng tiền. Tất cả đều đồng ý. K là người chia bài đầu tiên. Những ván tiếp sau người chơi nào thắng sẽ được chia bài. Bốn người đánh bạc đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thị xã P phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Về hình thức đánh bạc và cách tính thắng thua những người chơi thống nhất như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ A đến K đầy đủ các chất rô, cơ, tép, bích để chơi. Bắt đầu một ván phỏm người chơi đầu tiên sẽ được chia 10 quân bài, những người còn lại được chia 9 quân bài. Tất cả các quân bài còn lại được đặt ở giữa bàn, gọi là N1. Người chơi đầu tiên sẽ đánh ra 1 quân bài. Người tiếp theo sẽ “ăn” quân bài đó (cầm quân bài lên) nếu nó hợp với các quân bài đang có tạo thành “Phỏm”. “Phỏm” được quy định là có 03 lá bài liên tiếp cùng chất, “phỏm” là “sáp” nếu có bộ C2 lá bài cùng số. Trường hợp không “ăn” quân bài đó thì sẽ phải bốc 1 quân bài trong Nọc. Sau khi ăn bài/ bốc bài, người chơi phải đánh ra 1 quân bài. Cứ tiếp tục như vậy cho đến hết vòng. Ván bài sẽ kết thúc khi có 1 người chơi “Ù” nghĩa là có 03 phỏm. Nếu không có ai “Ù”, sau 4 lượt chơi ván bài sẽ kết thúc. Khi đánh lượt cuối, người chơi phải hạ tất cả “Phỏm” mình đang có, các quân bài còn lại sẽ được cộng điểm để tính thắng - thua. Ai ít điểm nhất sẽ là người thắng cuộc. Số điểm của mỗi lá bài chính là số trên lá bài đó, riêng các lá A, J, Q, K sẽ được tính điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13. Trong trường hợp điểm số bằng nhau, người hạ bài sau sẽ bị xử thua. Người chơi về bét là người có số điểm cao nhất phải trả cho người thắng là 150.000 đồng, người chơi về thứ 3 phải trả cho người thắng là 100.000 đồng, người chơi về thứ 2 phải trả cho người thắng là 50.000 đồng. Người chơi bị “Cháy” nghĩa là bài không có “Phỏm” nào phải trả cho người thắng số tiền là 200.000 đồng. Nếu người chơi nào “ăn” quân bài ở lượt cuối thì người bị “ăn” quân bài phải trả số tiền 200.000 đồng cho người “ăn”. Nếu ván bài có người “Ù” thì những người chơi còn lại phải trả cho người “Ù” là 250.000đ/người.
Đối với địa điểm các bị cáo ngồi đánh bạc tại lán công trường thuộc khu F, xã H, thị xã P thuộc quyền quản lý của Công ty T4 cho công nhân làm việc ở công trường ăn, nghỉ, không giao cho ai quản lý trực tiếp; việc các bị can đánh bạc tại đây, Công ty T4 không biết, do đó Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm.
Kết quả điều tra xác định: Nguyễn Thành C1 sử dụng 2.800.000 đồng, Nguyễn Xuân H sử dụng 2.950.000 đồng; Phan Tiến Đ sử dụng 2.500.000 đồng và Triệu Quốc K sử dụng 3.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Về vật chứng gồm: Số tiền 11.750.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân là tiền và công cụ các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
Về tài sản, đồ vật thu giữ: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu 215 4G màu đen thu giữ của Phan Tiến Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 250.000 đồng thu giữ của Triệu Quốc K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh. 01 ví giả da màu nâu thu giữ của Nguyễn Thành C1 không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 09/03/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo là đúng quy định. Đối với số tiền 4.230.000 đồng trong ví của Nguyễn Thành C1, quá trình xác minh xác định số tiền trên là của anh Phạm Hữu N, ở khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ là công nhân Công ty T4 gửi C1 để trả cho nhà bếp tiền ăn công nhân, C1 không sử dụng số tiền trên để đánh bạc. Ngày 19/3/2024 Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Phạm Hữu Nghĩa 1 đúng quy định.
Về điều kiện kinh tế, kết quả điều tra xác định: Các bị cáo đều không có nhà, đất. Bị cáo H. C1, K đang ở nhờ nhà bố mẹ, bị cáo Đ ở nhờ nhà đất của ông nội. Các bị cáo hiện đang là công nhân của Công ty T5, được công ty trả lương hàng tháng tổng thu nhập như sau: Phan Tiến Đ: 9.600.000 đồng/tháng; Triệu Quốc K, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Xuân H: 14.500.000 đồng/tháng/người.
Tại phiên tòa,bị cáo Nguyễn Xuân H khai nhận:
Tôi và K, C1, Đ đều là công nhân kỹ thuật công trình của Công ty T4 đang làm việc tại khu công nghiệp P. Khoảng 21 giờ 30 ngày 25/02/2024, sau khi ăn cơm, bốn người về lán của công trình đang thi công để ngủ thì thấy trên mặt bàn uống nước có 01 bộ bài tú lơ khơ nên rủ nhau đánh phỏm được thua bằng tiền. Tất cả đều đồng ý. K là người chia bài đầu tiên. Những ván tiếp sau người chơi nào thắng sẽ được chia bài. Bốn người đánh bạc đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thị xã P phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo đã sử dụng 2.950.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo không bị thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành C1 khai nhận:
Quá trình đánh bạc như bị cáo H vừa trình bày tại phiên toà là đúng. Bị cáo đã sử dụng 2.800.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo bị thu giữ 1 chiếc điện thoại, 01 ví giả da màu nâu, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan đã trả lại cho bị cáo và bị cáo đã nhận lại những tài sản này. Đối với số tiền 4.230.000 đồng trong ví của bị cáo, số tiền trên là của anh Phạm Hữu N, ở khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ là công nhân Công ty thi công cơ giới Viglacera gửi bị cáo để trả cho nhà bếp tiền ăn công nhân, bị cáo không sử dụng số tiền trên để đánh bạc, nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Phạm Hữu N.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Quốc K khai nhận:
Quá trình đánh bạc như bị cáo H và bị cáo C1 trình bày tại phiên tòa là đúng. Bị cáo đã sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo bị thu giữ điện thoại và 01 ví giả da bên trong có số tiền 250.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo. Bị cáo đã nhận lại
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Tiến Đ khai nhận:
Toàn bộ quá trình đánh bạc như bị cáo H,bị cáo C1 và bị cáo K trình bày tại phiên tòa là đúng. Bị cáo đã sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo bị thu giữ 01 chiếc điện thoại nhưng không liên quan đến việc đánh bạc của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo. Bị cáo đã nhận lại.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSTXPT ngày 02/5/2024 VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K và Phan Tiến Đ về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K và Phan Tiến Đ về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K, Phan Tiến Đ phạm tội Đánh bạc.
-Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 35 BLHS:
Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Tuyên phạt bị cáo Triệu Quốc K từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1,2 Điều 51; Điều 35 BLHS:
Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000đồng.
Tuyên phạt bị cáo Phan Tiến Đ từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu để nộp ngân sách nhà nước số tiền: 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng);
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân;
- Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Phan Tiến Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu 215 4G màu đen; bị cáo Triệu Quốc K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, 01 ví giả da màu nâu và số tiền 250.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thành C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh. 01 ví giả da màu nâu; trả lại anh Phạm Hữu N số tiền 4.230.000 đồng là hợp pháp.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật và rất ăn năn, hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo đầy đủ, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, tại lán nghỉ công nhân của công trường đang san lấp mặt bằng của Công ty T4 trong khu công nghiệp P thuộc khu F xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; các bị cáo Triệu Quốc K, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Xuân H và Phan Tiến Đ cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh "Phỏm” được thua bằng tiền. Các bị cáo đánh bạc đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã P bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lới khai của người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận: các bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K và Phan Tiến Đ về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Qua đó thấy rằng, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 321 BLHS quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng cho đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
.........
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng nếp sống văn minh gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an của địa phương cũng như toàn xã hội. Hơn nữa nó còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trong khác và là tệ nạn của xã hội bị Nhà nước nghiêm cấm.
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn; mục đích phạm tội là tư lợi, các bị cáo đều là người thực hiện hành vi đánh bạc trong vụ án.
Xét về nguyên nhân, động cơ, điều kiện phạm tội: Các bị cáo đều là người có sức khỏe, có hiểu biết xã hội nhưng không chịu khó lao động chân chính, tụ tập đông người sát phạt nhau để kiếm tiền bất hợp pháp. Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Do vậy, vụ án này cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt thì cần xem xét đến nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau :
Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K và Phan Tiến Đ đều có nhân thân nhân thân tốt. Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Xuân H có bố là ông Nguyễn Xuân H4 được Hội đồng Bộ trưởng N2 tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất, bị cáo Nguyễn Thành C1, Phan Tiến Đ nhiều năm được công nhận là Chiến sỹ thi đua cơ sở, bị cáo C1 được Ban chấp hành Công đoàn xây dựng Việt Nam tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào công nhân viên chức và hoạt động công đoàn năm 2016. Các bị cáo đều tích cực ủng hộ quỹ Vì người nghèo xã H, thị xã P được UBND xã H xác nhận nên xem xét cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Đ và bị cáo C1 được được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 35 là hình phạt tiền cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Tuy nhiên cần đánh giá vai trò, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng và số tiền mỗi bị cáo dùng đánh bạc để áp dụng mức án đối với từng bị cáo. Do vậy, đối với các bị cáo K và bị cáo H xem xét áp dụng mức án cao hơn các bị cáo C1 và Đ mới tương xứng với mức độ phạm tội đối với các bị cáo.
Với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đối với các bị cáo như trên là phù hợp cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3, điều 321 của Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Đối với các bị cáo do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không phạt bổ sung.
[5] Về vật chứng và các tài sản đồ vật tạm giữ:
Đối với số tiền 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ gồm có 52 quân bài là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu 215 4G màu đen thu giữ của bị cáo Phan Tiến Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 250.000 đồng thu giữ của bị cáo Triệu Quốc K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh. 01 ví giả da màu nâu thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành C1. Quá trình điều tra xác định không liên không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 09/03/2024, Cơ quan điều tra Công an Thị xã P đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp . Đối với số tiền 4.230.000 đồng trong ví của bị cáo Nguyễn Thành C1, quá trình điều tra xác minh xác định số tiền trên là của anh Phạm Hữu N, ở khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ là công nhân Công ty thi công cơ giới Viglacera gửi bị cáo C1 để trả cho nhà bếp tiền ăn công nhân, bị cáo C1 không sử dụng số tiền trên để đánh bạc nên ngày 19/3/2024 Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Phạm Hữu Nghĩa 1 phù hợp cần xác nhận trong bản án.
[6] Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K và Phan Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 321 điểmi, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Xuân H và bị cáo Triệu Quốc K; Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS đối với bị cáo Phan Tiến Đ và bị cáo Nguyễn Thành C1; Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân H;Triệu Quốc K; Nguyễn Thành C1; Phan Tiến Đ phạm tội” Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 28.000.000₫ ( Hai mươi tám triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Triệu Quốc K 30.000.000đ( Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 25.000.000₫ ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước
Xử phạt bị cáo Phan Tiến Đ 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng:Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền: 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm có 52 quân bài .
Xác nhận ngày 09/03/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho bị cáo Phan Tiến Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu 215 4G màu đen; bị cáo Triệu Quốc K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 250.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thành C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh. 01 ví giả da màu nâu.
Xác nhận ngày 19/3/2024 Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã P đã trả lại cho anh Phạm Hữu N số tiền 4.230.000 đồng.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thành C1, Triệu Quốc K và Phan Tiến Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi gửi:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc Hà |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
