|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2024
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trương Hữu Bình;
- Ông Hồ Đắc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 531/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Lê Kim C, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú:: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam P1 10 Bộ C1 có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn bà C, bị đơn ông D vắng mặt tại phiên toà và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo Đơn khởi kiện ngày 12/12/2023, quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Lê Kim C và ông Nguyễn Minh D chung sống với nhau từ năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2008 tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ban đầu thì vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, luôn bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng không có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Năm 2019, ông D bị bắt tạm giam và bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 13 năm tù về tội “giết người”. Hiện nay ông D đang chấp hành án tại Trại giam P1 có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà C thấy rằng vợ chồng không còn tình cảm, không còn thương yêu lẫn nhau nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh D.
Về con chung: Giữa bà C và ông D có 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/6/2008 và Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 17/12/2012. Các con chung đang do bà C nuôi dưỡng, ngoài ra còn có sự hỗ trợ từ hai bên gia đình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà C không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn xin ly hôn ngày 12/12/2023; bản sao Căn cước công dân; bản chính giấy chứng nhận kết hôn; bảo sao Giấy khai sinh của 02 con chung; bản tự khai ngày 12/12/2023; bản sao Bản án hình sự số 109/2020/HS-ST ngày 21/10/2020 của TAND tỉnh Bình Dương; đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ giao tài liệu chứng cứ ngày 12/12/2023; đơn yêu cầu không hòa giải đối thoại tại Tòa án ngày 12/12/2023; đơn yêu cầu vắng mặt ngày 4/6/2024.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/5/2024 của TAND huyện Phú Giáo tại Trại giam P1, bị đơn ông D trình bày:
Ông D và bà C có mối quan hệ là vợ chồng, chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D vào năm 2008. Vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng do ông D phải chấp hành án dài nên bà C xin ly hôn. Trước yêu cầu ly hôn của bà C thì ông D đồng ý. Ông D đồng ý giao cho bà C chăm sóc 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/6/2008 và Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 17/12/2012, khi chấp hành án xong ông D sẽ phụ giúp bà C nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, không D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đang chấp hành án tại trại giam nên ông D yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Chứng cứ ông D cung cấp: Đơn xin vắng mặt ngày 29/5/2024.
Ý kiến của con chung: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2024 của TAND huyện Dầu Tiếng thể hiện, cháu Nguyễn Tấn P và cháu Nguyễn Thị Cẩm T có nguyện vọng được ở với mẹ Huỳnh Lê Kim C.
3
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Lê Kim C khởi kiện, yêu cầu được ly hôn, nuôi con chung với ông Nguyễn Minh D. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông Nguyễn Minh D có nơi cư trú tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D vào ngày 03/3/2008 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Bà C cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, luôn bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng không có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Năm 2019, ông D bị bắt tạm giam và hiện nay ông D đang chấp hành án về tội “giết người” tại Trại giam P1 có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Bình Dương. Ông D cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng do ông D phải chấp hành án dài nên bà C xin ly hôn, trước yêu cầu ly hôn của bà C thì ông D đồng ý. Việc các bên đương sự tự nguyện thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội là phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.2] Về con chung: Giữa bà C và ông D có 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/6/2008 và Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 17/12/2012. Bà C yêu
4
cầu được nuôi dưỡng 02 chung, đồng thời ông D đồng ý giao con chung cho bà C nuôi dưỡng. Mặt khác, trong quá trình tiến hành tố tụng, cháu P và cháu T có nguyện vọng được ở với mẹ, do đó việc giao 02 con chung cho bà C nuôi dưỡng là phù hợp. Bà C không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự đều xác định không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Các bên đương sự được quyền khởi kiện tại một vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về quá trình tiến hành tố tụng, diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Nguyên đơn bà C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 19, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" của bà Huỳnh Lê Kim C đối với ông Nguyễn Minh D, cụ thể như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Lê Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Minh D.
1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giao 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/6/2008 và Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 17/12/2012 cho bà Huỳnh Lê Kim C chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà bà Huỳnh Lê Kim C về việc không yêu cầu ông Nguyễn Minh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa
5
án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Huỳnh Lê Kim C phải chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002463 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Bà Huỳnh Lê Kim C đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Kim Phi |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
Trần Thị Phương Trang |
6
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Lê Kim C, Nguyễn Minh D
