TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/5/2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Lê Thế Hải
- Bà: Nguyễn Thị Sen
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST – ST, ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H - Sinh năm: 1995
- Bị đơn: Anh Mai Hữu H1 – Sinh năm: 1990
Địa chỉ: TDP Q, phường N, tx. N, tỉnh Thanh Hóa.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Lê Thị H trình bày như sau: Chị và anh Mai Hữu H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T là phường N, TX. N vào ngày 20/10/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H1 không có trách nhiệm với vợ con, tính cách vợ chồng không hợp nhau. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh H1 không thay đổi. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nhiều lần anh H1 đã vay mượn tiền để chơi bời về bắt chị trả nợ, chị không có tiền thì sinh sự, chửi bới chị và một vài lần đánh đập chị. Tháng 7/2021, chị đã nộp đơn ly hôn lên tòa án nhưng sau đó lại rút đơn về. Từ đó đến nay tình cảm vợ chồng không thay đổi, tháng 8/2022 vợ chồng chị đã sống ly thân hoàn toàn cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là Mai Lê Huyền T– Sinh ngày: 17/3/2016 và Mai Lê Trung H2 – Sinh ngày: 20/01/2018. Nay ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi cháu Huyền T, còn cháu Trung H2 giao cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Vê cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu.
Về tài sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về quan điểm của anh Mai Hữu H1: Quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần Tòa án triệu tập anh H1 lên làm việc nhưng anh H1 cố tình trốn tránh không lên làm việc vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai hay nguyện vọng của anh Mai Hữu H1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, về phía bị đơn không chấp hành theo đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56; 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Mai Hữu H1. Về con chung giao cháu Huyền T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trung H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Mai Hữu H1 là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa lần thứ nhất anh H1 vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh H1 vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh H1. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử văng mặt chị H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị H và anh H1 đã xảy ra mâu thuẫn. Tháng 7/2021 chị H đa nộp đơn ly hôn đến toa một lần nhưng sau đó rút đơn về đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện. Bản thân chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xác minh tại chính quyền địa phương thê hiện chị H và anh H1 kết hôn hợp pháp. Trong cuộc sống, anh chị có xảy ra xích mích, cãi nhau nhưng không ai báo lên chính quyền địa phương. Anh chị đều làm lao động tự do. Hiện tại, anh H1 vẫn sinh sống tại TDP Q, phường N, còn chị H đã bỏ đi nơi khác sống. Quá trình giải quyết vụ án do anh H1 không chấp hành theo thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án dẫn đến không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt vì vậy HĐXX căn cứ Điều 51, 56 Luật HN&GĐ xử cho chị H được ly hôn đối với anh H1.
[3] Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Mai Lê Huyền T – Sinh ngày: 17/3/2016 và Mai Lê Trung H2 – Sinh ngày: 20/01/2018. Nay ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi cháu Huyền T, còn cháu Trung H2 giao cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Huyền T có nguyện vọng được ở với chị H. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có 02 con chung, hiện tại hai cháu ở với ông bà nội. Xét thấy cả chị H va anh H1 đều có đủ điều kiện để nuôi con, hơn nữa cháu Huyền T là bé gái nên rất cần sự chăm sóc của mẹ, cháu Trung H2 là bé trai nên ở với bố cũng hoàn toàn phù hợp. Để đảm bảo cuộc sống đầy đủ và sự phát triển của các cháu sau này và phù hợp với nguyện vọng của cháu Huyền T, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ giao cháu Huyền T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trung H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do mỗi người đều có trách nhiệm nuôi dưỡng một cháu nên không buộc chị H và anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Buộc chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ và o điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị H
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Mai Hữu H1
- Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Mai Lê Huyền T – Sinh ngày: 17/3/2016 và Mai Lê Trung H2 – Sinh ngày: 20/01/2018. Nay ly hôn giao cháu Huyền T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Trung H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007045, ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
- Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Mai Hữu H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T là phường N, TX. N vào ngày 20/10/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H1 không có trách nhiệm với vợ con, tính cách vợ chồng không hợp nhau. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh H1 không thay đổi. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nhiều lần anh H1 đã vay mượn tiền để chơi bời về bắt chị trả nợ, chị không có tiền thì sinh sự, chửi bới chị và một vài lần đánh đập chị. Tháng 7/2021, chị đã nộp đơn ly hôn lên tòa án nhưng sau đó lại rút đơn về. Từ đó đến nay tình cảm vợ chồng không thay đổi, tháng 8/2022 vợ chồng chị đã sống ly thân hoàn toàn cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
