Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – TUYÊN QUANG

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 16-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Khuất Thị Thanh.
  2. Bà Triệu Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Kim Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tiến hành đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HS ngày 09/12/2025 đối với các bị cáo:

- Nguyễn Trung N, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1994, tại: Tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ dân phố H T, phường H, tỉnh Tuyên Quang; CCCD số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C2 cấp ngày 04/12/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trung T, sinh năm 1962; con bà: Vũ Thị X, sinh năm 1962; có vợ: Đào Hiếu K, sinh năm 2000 (Đã ly hôn); có 01 con: Nguyễn Phúc K1, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 29/8/2011 bị Công an phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đã được xóa tiền sự.

Bị cáo bị bắt ngày 29/7/2025 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T, có mặt.

- Đỗ Bảo K2, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1997, tại: Tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường H, tỉnh Tuyên Quang; CCCD số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C2 cấp ngày 02/01/2023; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Cao T1, sinh năm 1957; con bà: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1958; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 30/7/2025 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T, có mặt.

Người làm chứng:

- Nguyễn Quang H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố B T, phường H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt

- Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố F T, phường H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 07 năm 2025, Nguyễn Trung N, sinh năm 1994; trú tại tổ dân phố H T, phường H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng tài khoản mạng xã hội Telegram đăng ký bằng số điện thoại 0979.454.xxx của N hỏi mua 30gam ma túy loại cần sa của tài khoản có tên “Pan A” với giá 2.300.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lợi nhuận, hình thức thanh toán bằng cách mua tiền điện tử USDT trên mạng rồi chuyển cho người có tài khoản tên “Pan A”. Sau khi thanh toán thành công, “Pan A” gửi ma túy cho N thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh (không nhớ tên hãng vận chuyển) đến địa chỉ nhà N tại số A N, phường H, tỉnh Tuyên Quang, số điện thoại nhận hàng là 0979.454.xxx. Khoảng 06 ngày sau (không nhớ ngày cụ thể), N nhận được ma túy và chia thành các túi nhỏ cất giấu trong phòng ngủ của mình ở nhà mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Ngày 22/7/2025, N tiếp tục đặt mua 30 gam ma túy loại cần sa của tài khoản Telegram “Pan Anh”, hình thức thanh toán như cũ. Đến ngày 27/7/2025 N nhận được ma túy rồi chia thành 04 túi nhỏ cất giấu tại nhà mục đích để bán kiếm lời.

Ngày 29/7/2025, N đem 03 túi nilon màu trắng miệng túi khoá kín, có đường viền màu đỏ, bên trong chứa ma túy loại cần sa đến quán C3; địa chỉ tổ dân phố G T, phường H, tỉnh Tuyên Quang để bán thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện, thu giữ tang vật.

Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trung N tại tổ dân phố H T, phường H, tỉnh Tuyên Quang thu giữ tại phòng ngủ của N 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa thảo mộc màu xanh, N khai nhận là ma túy loại cần sa và được niêm phong theo quy định. Cùng ngày 29/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trung N.

Trong các ngày 17/7/2025, ngày 20/7/2025, ngày 23/7/2025 Nguyễn Trung N đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Lần 1: Vào khoảng 20 giờ, ngày 17/7/2025 Đỗ Bảo K2, sinh năm 1997; trú tại tổ D, phường H, tỉnh Tuyên Quang; sử dụng tài khoản Messenger có tên “Như T2” gọi cho tài khoản M có tên “Nguyễn Trung N” để hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma tuý loại cần sa, N đồng ý và hẹn đưa ma túy tại quán C3. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, K2 thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ quán C4 đến quán cafe N1 như đã hẹn, K2 bảo người xe ôm chờ K2 để chở về luôn. Tại đây, N đưa cho K2 01 túi nilon màu trắng, miệng túi khoá kín và có đường viền màu đỏ, bên trong chứa khoảng 10gam ma túy loại cần sa. Sau khi mua được ma túy, K2 lên xe ôm quay trở lại quán C4 làm việc đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì đi bộ về nhà, cầm theo số ma túy đã mua được và sử dụng hết một mình tại nhà. Ngày 18/7/2025, K2 sử dụng tài khoản ngân hàng số 0852393199 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần P) thành phố Hồ Chí Minh (H2) của K2 chuyển đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C5 (TMCPCT) Việt Nam (V1) của N để trả số tiền mua ma túy là 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Lần 2: Khoảng 20 giờ ngày 20/7/2025, Nguyễn Quang H, sinh năm 1986; trú tại tổ dân phố B, phường H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng số điện thoại 0946.174.xxx của H gọi đến số 0979454222 của N để hỏi mua 10gam ma túy loại cần sa, mục đích để sử dụng cho bản thân. N đồng ý, báo giá cho H là 1.500.000 đồng. H chuyển tiền từ tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 của H chuyển đến tài khoản số [...], mở tại ngân hàng V1 của N số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, N lấy khoảng 10gam ma túy loại cần sa cho vào 01 túi nilon trong suốt, miệng túi khoá kín rồi đặt ứng dụng taxi Xanh SM đem đến nhà H tại số B, đường L, tổ dân phố B T, phường H, tỉnh Tuyên Quang và đưa trực tiếp ma tuý cho H. H đem số ma túy vừa mua được vào nhà cất giấu và sử dụng hết số ma túy nêu trên.

Lần 3: Khoảng 14 giờ, ngày 29/7/2025 Đỗ Bảo K2 tiếp tục gọi cho N thông qua mạng xã hội M để hỏi mua ma túy loại cần sa với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng cho bản thân và bán để kiếm lời, được N đồng ý. Sau đó K2 thuê 01 người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm để chở đến quán cafe N1. Tại đây N đưa cho K2 một túi nilon màu trắng, miệng túi khóa dán kín và đường viền màu đỏ, bên trong túi nilon có chứa ma túy loại cần sa, có trọng lượng khoản 05gam, nhận được ma túy K2 bảo người xe ôm chở thẳng về nhà để sử dụng ma túy. Sau khi về nhà K2 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản ngân hàng S mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (TMCPĐT&PT) Việt Nam (B) của K2 đến tài khoản ngân hàng số [...] mở tại ngân hàng V1 của N để thanh toán tiền mua ma túy.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Trung N đã thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó ngoài sử dụng một phần để mua ma túy vào ngày 22/7/2025 phần còn lại N đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 25/7/2025 Đỗ Bảo K2 sau khi mua được ma túy của Nguyễn Trung N đã thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác cụ thể như sau:

Vào hồi 19 giờ 50 phút ngày 25/7/2025, Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố F T, phường H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng số điện thoại 0972.835.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0852.393.xxx của K2 để hỏi mua ma túy, mục đích sử dụng cho bản thân. K2 đồng ý và báo giá cho V là 300.000 đồng. Do không đủ tiền, V chỉ chuyển cho K2 số tiền là 240.000 đồng, từ tài khoản ngân hàng số A, mở tại Ngân hàng V1 của V chuyển đến tài khoản ngân hàng số 0852393199, mở tại ngân hàng H2 của K2. V xin K2 nợ lại 60.000 đồng, nếu K2 có thì cho thêm, nếu không thì nợ và sẽ thanh toán sau. Sau khi nhận được tiền, K2 lấy túi ma túy đã mua của N từ trước, sử dụng cân của quán C4 xác định còn 02gam, K2 chia thành hai túi, mỗi túi có khối lượng 01gam, K2 giữ lại một túi để sử dụng cho bản thân, túi ma túy còn lại K2 bán cho V và hẹn V đến quán C4 để lấy ma túy. V đến gặp K2 nhận ma túy rồi đem về nhà một mình sử dụng hết.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Đỗ Bảo K2 đã thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy số tiền là 240.000 đồng, số tiền này K2 đã sử dụng toàn bộ để chi tiêu cá nhân.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ màu vàng, số Imei: 351446980334692, số I: 351446980340 046, điện thoại cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Đỗ Bảo K2.
  • 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xanh đen, số Imeil: 357210361468733, số Imei 2: 35721036 1336526, điện thoại đã qua sử dụng, trong điện thoại lắp sim có số trên sim 8984048000324285784 thu giữ của Nguyễn Trung N.
  • 01 (Một) túi niêm phong mã số PS2 1909927, trên túi có chữ ký của Nguyễn Trung N, thành phần tham gia niêm phong và các hình dấu của Phòng K3 Công an tỉnh T, bên trong bì có chất thảo mộc màu xanh của Nguyễn Trung N, cùng bao gói còn lại sau giám định.

(Các vật chứng trên đã chuyển sang Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4- Tuyên Quang để quản lý theo quy định).

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 29/7/2025 đối với Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2, Nguyễn Quang H và Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 30/7/2025 đối với Nguyễn Tuấn V đều có phản ứng dương tính (THC) chất ma túy có trong cây cần sa.

Tại Biên bản mở niêm phong kiểm tra điện thoại di động ngày 30/7/2025 của Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2 phát hiện các cuộc gọi, tin nhắn liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Tại Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 30/7/2025 tại Phòng K3 Công an tỉnh T xác định: 01 Phong bì niêm phong kín ký hiệu A1 bên trong có 03 túi ni lon màu trắng, mép túi có viền màu đỏ được đóng kín, bên trong có chứa thảo mộc màu xanh có ký hiệu M1; 01 Phong bì niêm phong kín ký hiệu A2 bên trong có 01 túi ni lon màu trắng, mép túi có viền màu đỏ được đóng kín, bên trong chứa thảo mộc màu xanh có ký hiệu M2 thu giữ của Nguyễn Trung N có tổng khối lượng là 31,84gam.

Ngày 30/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Bảo K2.

Tại bản kết luận giám định số 893/KL-KTHS, ngày 04/8/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận “Mẫu thảo mộc gửi giám định M1, M2 đều là chất ma túy, loại Cần sa; tổng khối lượng là 31,84gam”.

Ngày 12/8/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với các đối tượng là Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2, Nguyễn Quang H, Nguyễn Tuấn V theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Tại phiên tòa:

Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mua bán ma túy (cần sa) của mình, cụ thể: Bị cáo N đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 03 lần vào các ngày 17/7/2025, ngày 20/7/2025, ngày 23/7/2025 và thu được số tiền là 3.000.000 đồng; Bị cáo K2 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 25/7/2025 và thu được số tiền là 240.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 06/CT-VKSKV4 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Đỗ Bảo K2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tuyên Quang thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Đỗ Bảo K2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và đề nghị với HĐXX:

  • Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 29/7/2025.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 BLHS xử phạt bị cáo Đỗ Bảo K2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/7/2025.
  • Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251BLHS do các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định.
  • Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị tuyên:
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ màu vàng, số Imei: 351446980334692, số I: 351446980340 046, điện thoại cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Đỗ Bảo K2; 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xanh đen, số Imeil: 357210361468733, số Imei 2: 35721036 1336526, điện thoại đã qua sử dụng, trong điện thoại lắp sim có số trên sim 8984048000324285784 thu giữ của Nguyễn Trung N.
    • - Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 (Một) phong bì niêm phong mã số PS2 1909927, trên phong bì có chữ ký của Nguyễn Trung N, thành phần tham gia niêm phong và các hình dấu của Phòng K3 Công an tỉnh T, bên trong bì có chất thảo mộc màu xanh của Nguyễn Trung N, cùng bao gói còn lại sau giám định.
  • Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo hưởng lợi từ hành vi phạm tội mà có.
    • Truy thu bị cáo N số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng)
    • Truy thu bị cáo K2 số tiền 240.000đ (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa, không tranh luận gì thêm.

Người làm chứng Nguyễn Quang H, Nguyễn Tuấn V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, giữ nguyên lời trình bày như lời khai tại Cơ quan Điều tra ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Bị cáo Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2 thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo nhận thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về lao động, sản xuất giúp đỡ gia đình và trở thành công dân tốt cho xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng Nguyễn Quang H và Nguyễn Tuấn V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra đã có lời khai ổn định của những người làm chứng, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo, không mâu thuẫn với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và không ảnh hưởng đến việc xét xử. Đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người này. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời nhận tội của các bị cáo trước phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp bản cáo trạng đã công bố, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

[3.1] Hành vi của bị cáo Đỗ Bảo K2 bán ma túy loại cần sa 01 lần cho cho Nguyễn Tuấn V thu lời bất chính số tiền 240.000,đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng) đã pham tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

[3.2] Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung N đã 02 lần bán ma túy loại cần sa cho Đỗ Bảo K2 và 01 lần bán ma túy loại cần sa cho Nguyễn Quang H thu lợi bất chính số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...

b) Phạm tội 02 lần trở lên”

Như vậy, Cáo trạng số 06/CT-VKSKV4 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Đỗ Bảo K2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N, bị cáo K2 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên được áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo N có ông bà nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng các huân, huy chương kháng chiến nên bị cáo N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý huỷ hoại sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội.

[8] Xét nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều có trình độ văn hóa 12/12 biết mua bán trái phép chất ma túy là vị phạm pháp luật nhưng do ham chơi đua đòi đã trở thành đối tượng nghiện ma túy, các bị cáo không cố gắng sửa chữa, cai nghiện, thay đổi mà vẫn sa vào con đường nghiện ngập. Ngoài mua ma túy để sử dụng cho bản thân các bị cáo còn bán ma túy cho người khác sử dụng để thu lợi bất chính, hành vi của các bị cáo làm gia tăng số người nghiện, góp phần làm mất trật tự, an ninh xã hội, tăng tỷ lệ các loại phạm tội khác.

Đối với bị cáo Nguyễn Trung N còn có nhân thân xấu đã từng bị Công an phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Gây rối trật tự công cộng đã được xóa tiền sự, HĐXX xem xét về nhân thân khi lượng hình đối với bị cáo.

[9] Hành vi, vi phạm của các bị cáo cần xử lý bằng pháp luật hình sự cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhất định với mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo đủ để cại tạo, giáo dục đối với các bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa, chống tội phạm chung.

[10] Biện pháp ngăn chặn: Các bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, kết thúc phiên xét xử bị xử phạt tù nên cần tiếp tục tạm giam các bị cáo theo quyết định tạm giam của HĐXX để đảm bảo thi hành án.

[11] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ......” Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[12] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ màu vàng, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra được số I và tình trạng sử dụng của máy. Điện thoại thu giữ của Đỗ Bảo K2; 01(một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xanh đen, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra được số I và tình trạng sử dụng của máy, 01 (một) sim bên trong điện thoại trên bề mặt sim có số trên sim 8984048000324285784. Điện thoại thu giữ của Nguyễn Trung N.
  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) túi niêm phong Mã số: PS2 1909927, mặt trước của túi niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và có 01 dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T, mặt sau túi niêm phong có chữ ký của những thành phần tham gia và có 04 dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 -Tuyên Quang ngày 14/11/2025.

[13] Đối với số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy, cụ thể: Bị cáo N thu lợi được là 3.000.000 đồng và bị cáo K2 thu lợi được số tiền là 240.000 đồng. HĐXX xét thấy đây là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm cần truy thu sung quỹ Nhà nước theo quy định khoản 1 Điều 46 của BLHS

[14] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2, Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Quang H đều không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự và đã bị C quuan Cảnh sát Điều tra, Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật. Do vậy HĐXX không xem xét.

[15] Đối với người sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “Pan Anh” đã bán ma túy cho Nguyễn Trung N; 02 người đàn ông xe ôm chở K2 đi mua ma túy vào các ngày 17/7/2025, 23/7/2025 và người lái taxi Xanh SM chở N đi bán ma túy Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch do vậy Cơ quan điều tra đã tách vụ việc để tiếp tục xác minh, khi có đủ chứng cứ sẽ xử lý theo quy định. HĐXX không xem xét.

[16] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[17] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[18] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, mức án và xử lý vật chứng là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung N, bị cáo Đỗ Bảo K2 phạm tội“ Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung N 07 (bẩy) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 29/7/2025. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bảo K2 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/7/2025. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1, Điều 46 của BLHS Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm của các bị cáo trong đó:

Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000,đồng (ba triệu đồng chẵn) đối với bị cáo Nguyễn Trung N.

Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 240.000,đồng (hai trăn bốn mươi nghìn đồng chẵn) đối với bị cáo Đỗ Bảo K2.

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

5. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

  • - Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ màu vàng, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra được số I và tình trạng sử dụng của máy. Điện thoại thu giữ của Đỗ Bảo K2; 01(một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xanh đen, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra được số I và tình trạng sử dụng của máy, 01 (một) sim bên trong điện thoại trên bề mặt sim có số trên sim 8984048000324285784. Điện thoại thu giữ của Nguyễn Trung N.
  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) túi niêm phong Mã số: PS2 1909927, mặt trước của túi niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và có 01 dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T, mặt sau túi niêm phong có chữ ký của những thành phần tham gia và có 04 dấu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh T.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Tuyên Quang ngày 14/11/2025.

6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Trung N và Đỗ Bảo K2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Quyền kháng cáo: Áp dung Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Trung N, Đỗ Bảo K2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 16/12/2025.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND Khu Vực 4-Tuyên Quang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS Khu Vực 4-Tuyên Quang
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang
  • - Lưu hồ sơ, hstha, vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Xuân Đạt

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Triệu Thị Liên

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Trần Xuân Đạt

Khuất Thị Thanh

 

Vật chứng thu giữ được của vụ án gồm:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Xanh, biển kiểm soát: 23H1-142.00, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động động cơ bên trong của xe, xe có 01 chiếc gương chiếu hậu dạng gương lùn.
  • 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen bằng nhựa, dạng mũ lưỡi trai, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) đôi dép lê bằng cao su màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) quần vải ngắn màu xanh, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh, đã qua sử dụng.

Những vật chứng này được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Xuyên để quản lý theo quy định.

  • 01 (một) chiếc máy cắt cỏ đã bị tháo rời nhiều bộ phận gồm: 01 (một) đầu nổ có vỏ ngoài sơn màu: Cam, trên vỏ máy có ghi chữ “HUSQAVARNA 236R, Patented”; 01 (một) cần nối hình trụ tròn bằng kim loại dài 1,63m; 01 (một) lưỡi cắt kim loại; tay cầm và dây đeo, đã qua sử dụng;

+ Căn cứ các quy định của pháp luật và đơn xin lại tài sản của bị hại đại diện là bà Nguyễn Thị H1. Xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Ngày 01/8/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Hà Giang đã Quyết định xử lý vật chứng số: 19/QĐ-HS,KT,MT trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) chiếc máy cắt cỏ đã bị tháo rời nhiều bộ phận gồm: 01 (một) đầu nổ có vỏ ngoài sơn màu: Cam, trên vỏ máy có ghi chữ “HUSQAVARNA 236R, Patented”; 01 (một) cần nối hình trụ tròn bằng kim loại dài 1,63m; 01 (một) lưỡi cắt kim loại; tay cầm và dây đeo, đã qua sử dụng.

+ Đối với ông Sải Đức C1 là chủ cửa hàng mua bán vật tư nông nghiệp khi mua tài sản của T4 ông C1 không không biết tài sản trên là do trộm cắp mà có. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh làm rõ, việc mua bán là đúng với các quy định của pháp luật, không có sự tham gia giúp sức tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với bị hại là bà Nguyễn Thị H1 do đã nhận được tài sản bị mất trộm nên đã không đề nghị bị cáo T4 phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào liên quan đến vụ việc đồng thời cùng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sải Đức C1 là người mua tài sản của Vi Văn T4 đã nhận thấy sơ xuất của bản thân nên đã mua phải tài sản do phạm tội mà có, do đó không đề nghị bị cáo T4 phải bồi thường số tiền mà ông C1 đã mua tài sản do bị cáo trộm cắp được và không đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại do bị cáo gây ra.

Trước cơ quan điều tra bị cáo Vi Văn T4 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình tại các bút lục 122 đến số 136.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vi Văn T4 còn được chứng minh bằng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường tại các bút lục 74 đến số G; Biên bản thực nghiệm điều tra, sơ đồ, bản ảnh thực nghiệm điều tra tại các bút lục 87 đến 92; Biên bản nhận dạng tại các bút lục 94 đến số A; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật tài liệu tại các bút lục 106 đến bút lục số 108; Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại bút lục số 81; Lời khai của bị hại tại các bút lục 137 đến bút lục số 144; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại các bút lục 141 đến số A; Lời khai của người làm chứng tại các bút lục 156 đến số 160 và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TUYÊN QUANG về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MBTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger