Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 09 – 12 – 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tư và bà Phan Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu Nam (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/4/2005 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi thường trú: Thôn 8, xã Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: Ấp 3, xã Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Tài và bà Văn Thị Mỹ Lệ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/8/2025, đến ngày 19/8/2025 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đắk R'Lấp thuộc Trại giam số 2 – Công an tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
  2. Lê Nhựt Quang (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/7/2006 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thường trú: Tổ 11, ấp Tân Biên, xã Tân Quới, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: Ấp 3, xã Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Sơn và bà Phan Thị Kim Hằng; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/8/2025, đến ngày 19/8/2025 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đắk R'Lấp thuộc Trại giam số 2 – Công an tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Lê Thị Hưởng, sinh năm 1964; địa chỉ: Bon Sê Rê 1, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Phạm Minh Vương, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 5, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
  3. Ông Trần Văn Tân, sinh năm 1995; địa chỉ: Bon Bu Đách, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Ông Phạm Tiến Dũng, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 10, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Bà Trần Thị Thanh Thúy, sinh năm, 1975; địa chỉ: Thôn 7, xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
  6. Bà Trương Thị Mỹ Lệ, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 8, xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà 222, ấp Phú Hòa, xã An Bình, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: đường Hùng Vương, khu phố 3, xã Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 12/2024, thông qua tìm hiểu trên mạng xã hội Nguyễn Hữu Nam biết được cách thức tạo hóa đơn giả chuyển khoản cho người khác trên tài khoản ngân hàng. Việc tạo hóa đơn chuyển khoản giả được thực hiện bằng cách truy cập vào Google, rồi vào đường link “Fakebill.lephanquocanh”, tiếp đến vào trang “FakeBill Web Fake Bill Chuyển khoản nhanh chóng SỐ LỚN”, và vào “truy cập” sẽ hiện lên trang “LE PHAN QUOC ANH FAKEBILL – SỐNG ẢO - SEEDING” cùng các mục “Trang chủ”, “Đăng nhập” và “Đăng ký tài khoản” để người dùng lựa chọn. Sau khi đăng kí tài khoản thành công, người dùng nhấn vào đăng nhập rồi nhập tên và mật khẩu đã đăng ký. Sau đó, vào ký tự 03 dấu gạch ngang phía trên, bên trái – ngay cạnh ký tự “Trang chủ”, tiếp đến ấn vào dòng thứ 3 từ trên xuống – ký tự “Fake bill chuyển khoản”, khi này sẽ hiển thị tất cả các ngân hàng trên hệ thống ngân hàng nhà nước Việt Nam. Chỉ cần chọn ngân hàng nào cần tạo giao dịch giả, nhập số tài khoản, tên người nhận, số tiền cần chuyển rồi ấn vào ký tự “Tạo bill” thì trang “Fakebill.lephanquocanh” sẽ hiển thị hình ảnh giống hình ảnh các giao dịch của

ngân hàng, theo đúng thông tin đã nhập. Nam tiến hành truy cập vào đường link và tạo tài khoản tên “Nguyenhuunam”, mật khẩu “tungnam@238”. Sau đó, Nam thực hiện thao tác giao dịch giả thì đều nhận được hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công như giao dịch thật của ngân hàng.

Đến khoảng 16 giờ ngày 08/08/2025, do thiếu tiền để tiêu xài, Nam nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức trên để lấy tiền mặt. Để thực hiện hành vi lừa đảo Nam rủ Lê Nhựt Quang, là người ở cùng phòng trọ tại địa chỉ ấp 3, xã Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cùng đi về nhà của bố mẹ của Nam tại thôn 8, xã Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk chơi, đồng thời bàn bạc với nhau về việc dùng thủ đoạn làm giả hóa đơn chuyển khoản để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trên đường đi. Từ khoảng 02 giờ ngày 09/08/2025, Nam điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu đời mới, biển kiểm soát (BKS): 64B1-814.80 nhãn hiệu Honda, loại Air Blade màu đỏ chở theo Quang di chuyển theo hướng từ tỉnh Đồng Nai đến tỉnh Đắk Lắk. Bằng phương thức thủ đoạn ở trên, Nam và Quang đã thực hiện 06 lần hành vi lừa đảo tại các quán ăn, uống dọc đường, tại 04 xã Quảng Tín, xã Kiến Đức, xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng, cụ thể như sau:

Lần 1:

Khoảng 09 giờ ngày 09/08/2025, Nam điều khiển xe mô tô BKS: 64B1-814.80 chở Quang ghé vào quán phở của bà Lê Thị Hưởng (sinh năm: 1964, trú tại: bon Sê Rê 1, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng). Tại đây, Quang gọi 01 tô phở bò, Nam gọi 01 tô bún bò ra ăn, 01 chai nước ngọt Number One để uống. Sau khi ăn, uống xong, Nam đứng dậy tính tiền và nói với bà Hưởng: “Cho cháu chuyển khoản, có tiền mặt cho cháu xin rút ba trăm” thì bà Hường đồng ý và đưa điện thoại có ảnh chụp mã vạch QR CODE cho Nam để thanh toán. Nam lấy thông tin và tạo hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công số tiền 370.000 đồng, trong đó: 70.000 đồng là tiền Nam trả bún, phở, nước đã sử dụng tại quán và 300.000 đồng là tiền mà Nam chuyển khoản để lấy tiền mặt. Sau đó, Nam đưa cho bà Hường xem hình ảnh đã giao dịch thành công. Bà Hưởng tin và đưa cho Nam 300.000 đồng. Nam nhận tiền đưa hết cho Quang cất giữ rồi điều khiển xe mô tô đi tiếp. Sau đó, bà Hưởng kiểm tra lại tài khoản ngân hàng thì không thấy nhận được giao dịch số tiền 370.000 đồng nên đã trình báo lên Cơ quan Công an.

Lần 2:

Sau khi lấy tiền từ bà Hương, Nam tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 64B1-814.80 chở Quang đi chuyển theo tuyến quốc lộ 14 về hướng xã Kiến Đức, khi đến quán nước Tý Hon của anh Phạm Minh Vương (sinh năm: 1989, trú tại thôn 5, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng) thì Nam nói với chủ quán: "Bán cho em 02 ly cà phê sữa đá”. Khi này, anh Vương đang làm nước cho

khách thì Nam nói: “Cho em thanh toán trước, xíu nữa em quay lại lấy, anh có tiền mặt không cho em đổi năm trăm”. Nghe vậy, anh Vương đồng ý và đưa điện thoại cho Nam quét mã vạch QR CODE thì Nam lấy thông tin và tạo hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công số tiền 540.000 đồng, trong đó: 30.000 đồng là tiền cà phê, 10.000 đồng là tiền phí chuyển và 500.000 đồng là tiền mà Nam chuyển khoản để lấy tiền mặt. Sau đó, Nam đưa cho anh Vương xem hình ảnh đã giao dịch thành công thì anh Vương tin tưởng và đưa cho Nam số tiền 500.000 đồng. Nam đưa hết tiền cho Quang rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tiếp. Khoảng 01 giờ sau, anh Vương kiểm tra lại tài khoản ngân hàng thì không thấy nhận được giao dịch số tiền 540.000 đồng nên đã trình báo lên Cơ quan Công an.

Lần 3:

Sau khi lấy tiền từ quán anh Vương, Nam tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 64B1-814.80 chở Quang theo đường quốc lộ 14 về hướng xã Kiến Đức, khi đến quán hủ tiếu của anh Trần Văn Tân (sinh năm: 1995, trú tại bon Bu Đách, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng). Tại đây, Nam nói “Cho cháu mua 02 tô hủ tiếu, cho cháu thanh toán trước, tý cháu quay lại”. Đồng thời, Nam lấy thông tin và tạo hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công số tiền 250.000 đồng, trong đó: 50.000 đồng là tiền hủ tiếu và 200.000 đồng là tiền mà Nam chuyển khoản để lấy tiền mặt. Sau đó, Nam đưa cho anh Tân xem hình ảnh giao dịch thành công thì anh Tân tin tưởng và đưa cho Nam 200.000 đồng. Nam cầm tiền đưa hết cho Quang rồi điều khiển xe mô tô đi tiếp. Khoảng 02 giờ sau, anh Tân kiểm tra lại tài khoản ngân hàng thì không thấy nhận được giao dịch số tiền 250.000 đồng nên đã trình báo lên Cơ quan Công an.

Lần 4:

Sau khi lấy tiền từ quán anh Tân, Nam tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 64B1-814.80 chở Quang theo đường quốc lộ 14 về hướng xã Kiến Đức, khi đến quán Phở của anh Phạm Tiến Dũng (sinh năm: 1989, thuộc thôn 10, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng). Tại đây, Nam nói: “bán cho cháu 02 tô phở tái” và “cho cháu xin đổi tiền tài khoản để lấy tiền mặt đi mua đồ” thì anh Dũng đồng ý, rồi chỉ vào mã vạch QR CODE trên bàn. Nam lấy thông tin và tạo hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công số tiền là 770.000 đồng, trong đó: 70.000 đồng là tiền phở và 700.000 đồng là tiền mà Nam chuyển khoản để lấy tiền mặt. Sau đó, Nam đưa cho anh Dũng xem hình ảnh giao dịch thành công thì anh Dũng tin tưởng và đưa cho Nam số tiền 700.000 đồng. Nam cầm tiền đưa hết cho Quang rồi điều khiển xe mô tô đi tiếp. Khoảng 05 phút sau, anh Dũng kiểm tra lại tài khoản ngân hàng thì không thấy nhận được giao dịch số tiền 770.000 đồng nên đã trình báo lên Cơ quan Công an.

Lần 5:

Sau khi lấy tiền từ quán anh Dũng, Nam tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 64B1-814.80 chở Quang theo đường quốc lộ 14 về hướng xã Nhân Cơ. Khi đến quán cơm tấm của bà Trần Thị Thanh Thúy (sinh năm: 1975, thuộc thôn 7, xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng). Tại đây, Nam nói: “Cho cháu mua hai phần cơm, cháu chuyển tiền trước, tý cháu lấy” thì bà Thúy đồng ý và chỉ mã vạch QR CODE dán trên tủ đựng đồ ăn. Nam lấy thông tin và tạo hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công số tiền 770.000 đồng, trong đó: 70.000 đồng là tiền cơm và 700.000 đồng là tiền mà Nam chuyển khoản để lấy tiền mặt. Sau đó, Nam đưa bà Thúy xem hình ảnh giao dịch thành công thì bà Thúy tin tưởng và đưa cho Nam số tiền 700.000 đồng. Nam cầm tiền đưa hết cho Quang rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tiếp. Một lúc sau, không thấy Nam và Quang quay lại nên bà Thúy nghi ngờ và kiểm tra lại tài khoản ngân hàng thì không thấy nhận được giao dịch số tiền 770.000 đồng.

Lần 6:

Sau khi lấy tiền từ quán bà Thúy, Nam tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 64B1-814.80 chở Quang theo đường quốc lộ 14 về hướng tỉnh Đắk Lắk. Khi đến quán cơm phần của chị Trương Thị Mỹ Lệ (sinh năm: 1995, thuộc thôn 8, xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng). Tại đây, Nam nói: “Bán cho em 02 phần cơm sườn trứng”. Thấy chị Lệ đang làm cơm cho khách nên Nam nói “cho em thanh toán trước em quay lại lấy cơm” thì chị Lệ đồng ý và đọc số tài khoản ngân hàng. Nam lấy thông tin và tạo hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công số tiền là 770.000 đồng, trong đó: 70.000 đồng là tiền cơm và 700.000 đồng là tiền mà Nam chuyển khoản để lấy tiền mặt. Sau đó, Nam đưa chị Lệ xem hình ảnh giao dịch thành công thì chị Lệ tin tưởng và đưa cho Nam số tiền 700.000 đồng. Nam cầm tiền đưa hết cho Quang rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tiếp. Lúc này, chị Lệ kiểm tra tài khoản ngân hàng thì không thấy nhận được giao dịch số tiền 770.000 đồng nên đã trình báo lên Cơ quan Công an.

Sau khi thực hiện hành vi lừa đảo, Nam và Quang không về tỉnh Đắk Lắk mà quay lại về hướng tỉnh Đồng Nai, khi đang trên đường đi thì bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng mời về làm việc, quá trình làm việc Nam và Quang đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Như vậy trong ngày 09/8/2025 Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang đã tạo hình ảnh chuyển khoản thành công giả nhằm chiếm đoạt tài sản của 06 bị hại với số tiền 3.470.000 đồng, trong đó: 3.170.000 đồng là tiền các bị cáo đã sử dụng thông tin gian dối để chiếm đoạt và 300.000 đồng là tiền các bị cáo yêu cầu dịch vụ, sản phẩm nhưng không sử dụng. Ngày 10/8/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành thu giữ 3.950.000 đồng tiền mặt đối với Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang, trong đó bao gồm: 3.100.000

đồng là tiền mà các bị cáo chiếm đoạt của 06 bị hại và 850.000 là tài sản hợp pháp của các bị cáo.

Tại cáo trạng số 03/CT-VKS-KV7 ngày 24 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Nam và bị cáo Lê Nhựt Quang về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Nam và bị cáo Lê Nhựt Quang phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Hữu Nam từ 12 tháng đến 15 tháng tù giam
  • Bị cáo Lê Nhựt Quang từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng, do đó đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 300.000 đồng, đây là tiền mà các bị cáo yêu cầu sản phẩm, dịch vụ nhưng không sử dụng sản phẩm, dịch vụ của các bị hại. Các bị hại mặc dù đã làm ra sản phẩm nhưng cũng đã bán các sản phẩm này cho người khác nên không bị thiệt hại và các bị hại cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền này nên không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số E1401/QĐ-VPCQCSĐT trả lại cho chị Nguyễn Thị Thùy Linh (sinh năm 1990; chỗ ở hiện nay: đường Hùng Vương, khu phố 3, xã Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ) là chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại Air Blade màu đỏ, biển số 64B1-814.80 do chị Linh không biết việc Nam sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen là công cụ Nam sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại số tiền cho các bị hại là bà Lê Thị Hưởng 370.000 đồng, anh Phạm Minh Vương 500.000 đồng, anh Trần Văn Tân 200.000 đồng, anh Phạm

Tiến Dũng 700.000 đồng, bà Trần Thị Thanh Thúy 700.000 đồng, chị Trương Thị Mỹ Lệ 700.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu Nam 220.000 đồng và bị cáo Lê Nhựt Quang 560.000 đồng do đây là tiền các bị cáo sở hữu hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội; thừa nhận tội danh, hình phạt, các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng, không oan và đồng ý dùng số tiền còn lại của mình để bổ sung trả cho bị hại Hưởng là 70.000 đồng (Bị cáo Nam 35.000 đồng, bị cáo Quang 35.000 đồng). Các bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị hại bà Lê Thị Hưởng, ông Trần Văn Tân và ông Phạm Tiến Dũng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy Linh có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị hại bà Trương Thị Mỹ Lệ vắng mặt dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Ngày 09/8/2025, tại dọc Quốc lộ 14 thuộc địa bàn các xã Quảng Tín, xã Kiến Đức, xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng phương thức thủ đoạn truy cập vào trang “Tokebill – Web Fake Bill Chuyển khoản nhanh chóng số 1” để tạo các hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công giả nhằm chiếm đoạt tổng số tiền 3.170.000 đồng, trong đó của bà Lê Thị Hưởng số tiền là 370.000 đồng; anh Phạm Minh Vương số tiền là 500.000 đồng; anh Trần Văn Tân số tiền là 200.000 đồng; anh Phạm Tiến Dũng số tiền là 700.000 đồng; chị Trần Thị Thanh Thúy 700.000 đồng; chị Trương Thị Mỹ Lệ số tiền là 700.000 đồng.

Các bị cáo phạm tội một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, cùng một loại hành vi xâm phạm sở hữu; chưa bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính; tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 3.170.000 đồng trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Do đó, có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và theo Hướng dẫn tại Điều 3 Mục I Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính. Cụ thể:

Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

Điều 3 Mục I Công văn số 64/TANDTC-PC hướng dẫn:

...trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng trị giá tài

sản của các lần bị xâm phạm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ hành vi chiếm đoạt trái phép nào đều bị xử lý nghiêm theo quy định, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân cộng với ý thức coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị hại ông Vương, bà Thúy xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về quyết định hình phạt: Trong vụ án này Nguyễn Hữu Nam là người trực tiếp tìm hiểu cách thức tạo hình ảnh chuyển khoản giả, rủ Lê Nhựt Quang cùng thực hiện hành vi phạm tội, chuẩn phương tiện di chuyển và phương tiện phạm tội, điều khiển xe gắn máy chở Quang từ xã Nhơn Trạch đến địa bàn tỉnh Lâm Đồng để thực hiện tội phạm; đồng thời Nam cũng là người trực tiếp tiếp cận các bị hại, đưa ra thông tin gian dối và tạo các hình ảnh chuyển khoản thành công giả để chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Bị cáo Lê Nhựt Quang là người ngồi sau xe Nam thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức giữ tiền nhiều lần sau khi Nam lấy được của các bị hại. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo Nam mức hình phạt cao hơn bị cáo Quang.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm chỉ yêu cầu đối với tổng số tiền 3.170.000 đồng, trong đó của bà Lê Thị Hưởng số tiền là 370.000 đồng; anh Phạm Minh Vương số tiền là 500.000 đồng; anh Trần Văn Tân số tiền là 200.000 đồng; anh Phạm Tiến Dũng số tiền 700.000 đồng; chị Trần Thị Thanh Thúy số tiền 700.000 đồng; chị Trương Thị Mỹ Lệ số tiền là 700.000 đồng. Do các bị cáo bị bắt cùng với toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ trả lại cho các bị hại trong phần xử lý vật chứng.

Đối với số tiền 300.000 đồng, đây là tiền mà các bị cáo yêu cầu sản phẩm, dịch vụ (cà phê, hủ tiếu, phở, cơm) nhưng không sử dụng sản phẩm, dịch vụ của các bị hại, đồng thời các bị cáo không có ý chí, chủ đích hay hành vi chiếm đoạt số tiền trên. Các bị hại mặc dù đã làm ra sản phẩm nhưng cũng đã bán các sản phẩm này cho người khác nên không bị thiệt hại và các bị hại cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền này nên không đề cập xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade màu đỏ, biển số 64B1-814.80 do chị Nguyễn Thị Thùy Linh là chủ sở hữu hợp pháp. Qua xác minh, chị Linh không biết Nguyễn Hữu Nam sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số E1401/QĐ-VPCQCSĐT trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại Air Blade màu đỏ, biển số 64B1-814.80 cho chị Nguyễn Thị Thùy Linh là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen là công cụ Nguyễn Hữu Nam sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo Nam thừa nhận số tiền của bị cáo mang đi là 360.000 đồng, bị cáo Quang thừa nhận số tiền của bị cáo mang đi là 700.000 đồng. Tổng cộng là 1.060.000 đồng, sau khi trả tiền đổ xăng và các chi phí khác hết 210.000 đồng, các bị cáo thống nhất mỗi bị cáo chịu ½ = 105.000 đồng. Vậy là bị cáo Nam còn 255.000 đồng, bị cáo Quang còn 595.000 đồng, các bị cáo đồng ý dùng số tiền của mình để bồi thường cho người bị hại Hưởng là 70.000 đồng (mỗi bị cáo là 35.000 đồng). Vì vậy, Bị cáo Nam còn 220.000 đồng; bị cáo Quang còn 560.000 đồng

Đối với số tiền 3.170.000 đồng của các bị hại. Cụ thể: bà Lê Thị Hưởng số tiền là 370.000 đồng; anh Phạm Minh Vương số tiền là 500.000 đồng; anh Trần Văn Tân số tiền là 200.000 đồng; anh Phạm Tiến Dũng số tiền là 700.000 đồng; chị Trần Thị Thanh Thúy 700.000 đồng; chị Trương Thị Mỹ Lệ số tiền là 700.000 đồng nên cần trả lại cho các bị hại.

Đối với số tiền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Hữu Nam là 220.000 đồng và Lê Nhựt Quang là 560.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

[10] Xét quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    • Bị cáo Nguyễn Hữu Nam 01(Một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/8/2025.
    • Bị cáo Lê Nhựt Quang 09 (Chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/8/2025.
  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Các bị hại không yêu cầu các bị cáo Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang bồi thường thiệt hại gì thêm nên không đề cập xử lý. Đối với số tiền các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại được xử lý trả lại cho các bị hại trong phần xử lý vật chứng.

  5. Về xử lý vật chứng:
  6. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số E1401/QĐ-VPCQCSĐT trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại Air Blade màu đỏ, biển số 64B1-814.80 cho chị Nguyễn Thị Thùy Linh là chủ sở hữu hợp pháp.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen là công cụ Nguyễn Hữu Nam sử dụng vào việc phạm tội.

    Trả lại số tiền 3.170.000 đồng cho các bị hại cụ thể: bà Lê Thị Hưởng số tiền 370.000 đồng, anh Phạm Minh Vương số tiền 500.000 đồng, anh Trần Văn Tân số tiền 200.000 đồng, anh Phạm Tiến Dũng số tiền 700.000 đồng, bà Trần

    Thị Thanh Thúy số tiền 700.000 đồng, chị Trương Thị Mỹ Lệ số tiền 700.000 đồng.

    Trả lại cho Nguyễn Hữu Nam 220.000 đồng và Lê Nhựt Quang số tiền 560.000 đồng là tiền sở hữu hợp pháp của các bị cáo.

    (Theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Lâm Đồng)

  7. Về án phí:
  8. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Hữu Nam và Lê Nhựt Quang mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 7 – Lâm Đồng;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng PC 10 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đông;
  • - Phòng THADS khu vực 7 – Lâm Đồng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hữu N và bị cáo Lê Nhựt Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger